Lưu trữ cho từ khóa: siêu âm

GAN NHIỄM MỠ (HEPATIC STEATOSIS)

Bs. Hoàng Văn Trung

Gan nhiễm mỡ (Hepatic steatosis = Fatty liver)

1. Đại cương

1.1. Định nghĩa

  • Gan nhiễm mỡ là sự tích tụ lipid bất thường, đặc biệt là triglyceride trong tế bào gan (lượng mỡ tích tụ trong gan >15% trọng lượng gan).
  • Nếu không điều trị thì 50% gan sẽ xơ hóa (15% xơ gan, 5% K gan).
Hình 1. Minh họa gan nhiễm mỡ, đây là kết quả của sự tích tụ mỡ trong gan

1.2. Gan bình thường trên siêu âm

Trên siêu âm, bình thường độ hồi âm của gan bằng hoặc tăng nhẹ so với vỏ thận. Khi thận bị bệnh lý thì so sánh với lách, thì độ hồi âm của gan gần tương đương lách.

Hình 2. Hồi âm bình thường của gan trên siêu âm. Bình thường độ hồi âm của gan bằng hoặc tăng nhẹ so với vỏ thận. Khi thận bị bệnh lý thì so sánh với lách.

1.3. Gan bình thường trên CT

Trên CT không tiêm thuốc, bình thường:

  • Gan có tỷ trọng 50-65HU
  • Cao hơn lách #6-12HU
  • Cao hơn các mạch máu trong gan.
Hình 3. Trên CT không tiêm thuốc. Bình thường gan có tỷ trọng 50-65HU, cao hơn lách #6-12HU, cao hơn các mạch máu trong gan (chữ v màu trắng)

Trên CT có tiêm thuốc, bình thường: 

  • Đậm độ gan tuyệt đối > 40HU
  • Đậm độ gan khá tương đồng lách. Tuy nhiên do hệ mạch máu của gan và lách khác nhau, nên so sánh sẽ không đặc hiệu.
  • Đậm độ gan ngang bằng đậm độ cơ cạnh sống hay cơ liên sườn.
Hình 4. Hình ảnh gan bình thường trên các thì sau tiêm. Lưu ý: Đậm độ tương đối sẽ khác nhau khi so sánh gan và lách, vì gan và lách được cấp máu bởi hệ mạch khác nhau. Nên so sánh gan và lách ở thì muộn (tức là so sánh ở hình C).

[collapse]
2. Gan nhiễm mỡ trên siêu âm

Phân độ gan nhiễm mỡ theo Hasen-Ansert trên siêu âm:

  • Độ I (nhẹ): Gan tăng âm nhẹ, nhìn thấy rõ bờ mạch máu và cơ hoành.
  • Độ II (vừa): Gan tăng âm vừa, tăng độ hút âm vừa, giảm nhìn thấy bờ các tĩnh mạch trong gan và cơ hoành.
  • Độ III (nặng): Gan tăng âm nhiều, tăng hút âm mạch, không nhìn thấy rõ bờ các mạch máu và cơ hoành.
Hình 5. Phân độ gan nhiễm mỡ trên siêu âm. A – Gan bình thường. B – Gan nhiễm mỡ độ I. C- – Gan nhiễm mỡ độ II. D – Gan nhiễm mỡ độ III.

[collapse]
3. Gan nhiễm mỡ trên CT

3.1. Gan nhiễm mỡ thì không tiêm thuốc:

  • Đậm độ gan thấp hơn lách hoặc
  • Đậm độ gan tuyệt đối < 48HU
Hình 6. Chẩn đoán gan nhiễm mỡ trên CT thì không tiêm thuốc khi: Đậm độ gan thấp hơn lách hoặc Đậm độ gan tuyệt đối < 48HU.

3.2. Gan nhiễm mỡ thì có tiêm thuốc:

  •   Đậm độ gan tuyệt đối < 40HU
  •   Đậm độ gan ít hơn lách  ít nhất 20- 25HU
  •   Đậm độ gan thấp hơn cơ cạnh sống hay cơ liên sườn.
Hình 7. CĐ gan nhiễm mỡ thì có tiêm thuốc: Đậm độ gan tuyệt đối < 40HU; Đậm độ gan ít hơn lách ít nhất 20- 25HU; Đậm độ gan thấp hơn cơ cạnh sống hay cơ liên sườn.

Lưu ý:

  • Đậm độ tương đối sẽ khác nhau khi so sánh gan và lách, vì gan và lách được cấp máu bởi hệ mạch khác nhau.
  • Nên so sánh gan và lách ở thì muộn.
Hình 8. Lưu ý: Đậm độ tương đối sẽ khác nhau khi so sánh gan và lách, vì gan và lách được cấp máu bởi hệ mạch khác nhau. Nên so sánh gan và lách ở thì muộn.
Hinh 9. Đây là một trường hợp gan nhiễm mỡ nặng. Tỷ trọng gan chỉ từ 0-10HU

[collapse]
4. Tóm tắt

Phân độ gan nhiễm mỡ trên siêu âm:

  • Độ I: Gan tăng âm nhẹ, không hút âm, nhìn thấy rõ bờ mạch máu và cơ hoành.
  • Độ II: Gan tăng âm vừa, tăng độ hút âm vừa, giảm nhìn thấy bờ các tĩnh mạch trong gan và cơ hoành.
  • Độ III: Gan tăng âm nhiều, tăng hút âm mạch, không nhìn thấy rõ bờ các mạch máu và cơ hoành.

Chẩn đoán gan nhiễm mỡ trên CT:

  • Không thuốc: Đậm độ gan thấp hơn lách hoặc Đậm độ gan < 48HU
  • Có thuốc: Đậm độ gan < 40HU hoặc Đậm độ gan ít hơn lách  ít nhất 20- 25HU hoặc Đậm độ gan thấp hơn cơ cạnh sống hay cơ liên sườn.

[collapse]

U TUYẾN CẬN GIÁP

Hoàng Văn Trung

1. Đại cương về tuyến cận giáp

1.1 Giải phẫu

Cận giáp là những tuyến nhỏ, kích thước khoảng 6x4x2mm bằng hạt gạo, mỗi tuyến chỉ nặng khoảng chừng 30-60mg, hình hơi dài và dẹt, mềm, màu nâu hoặc vàng nâu.

Tổng số tuyến cận giáp là 4, bao gồm 2 tuyến cận giáp trên và 2 tuyến cận giáp dưới. Đôi khi có người có 5 – 6 tuyến cận giáp. Hiếm hơn là 3 tuyến cận giáp.

Tuyến cận giáp trên thường nằm ở mặt sau tuyến giáp, nhưng cũng có thể nằm ở vị trí khác như trung thất, cạnh thực quản, dưới hàm…

Tuyến cận giáp dưới nằm ở phía sau cực dưới của 2 thùy giáp, đôi khi có thể thấp hơn. Tuyến cận giáp có vỏ bọc riêng và có thể tách rời khỏi tuyến giáp, nối với tuyến bằng một bó mạch-thần kinh, bao gồm động mạch giáp dưới, đám rối tĩnh mạch, hạch lympho cổ, thần kinh giao cảm và các dây thần kinh quặt ngược.

Tuyến cận giáp thường nằm sau tuyến giáp

1.2 Sinh lý học

Tuyến cận giáp tiết ra parathyroid hormon (PTH). Thời gian bán rã của PTH rất ngắn, chỉ khoảng 10 phút đối với toàn bộ phân tử. PTH bị giáng hoá chủ yếu ở thận.

PTH tác dụng trên màng tế bào làm cho canxi đi vào tế bào một cách tích cực và dễ dàng hơn.

PTH làm tăng canxi huyết và phosphat niệu. Hoạt động của PTH chủ yếu diễn ra tại xương, thận và ruột.

(1) Tại xương, với tác dụng gia tăng tốc độ thay thế xương trong đó tác dụng hủy cốt bào (osteoclastic) chiếm ưu thế với tăng phân phối calci và phospho vào máu.

(2) Ở thận, PTH tạo thuận lợi để tăng cường tái hấp thu calci ở ống thận sau khi đã lọc qua cầu thận. PTH làm giảm tái hấp thu phospho cũng như các H+ và Mg++ ở ống thận. Ức chế ống thận hấp thu phospho và bicarbonat. Kích thích tổng hợp 1,25 – dihydroxycholecalciíerol ở thận. Kết quả của tất cả các tác dụng này là làm tăng lượng calci ion hóa lưu hành trong máu.

(3) Vitamin D là một hormon có tác dụng và cơ chế tổng hợp phức tạp. Chole – calciferol (vitamin D3) được tổng hợp tại da từ 7- dehydrocholesterol dưới tác dụng của bức xạ tia cực tím. Để trở thành dạng hợp chất có tác dụng sinh học đầy đủ cần trải qua hai quá trình hydroxyl hóa liên tiếp: quá trình thứ nhất xảy ra ở gan tạo thành 25 – hydroxycholecalciferol (25[OH]D3) và quá trình thứ hai xảy ra ở thận tạo thành vitamin D có tác dụng sinh học, chuyển hóa mạnh nhất 1,25 – dihydroxycholecalciferol (1,25[OH]2D3). Tác dụng chính của vitamin D là tăng cường hấp thu calci và phospho tại ruột.

1.3. Điều tiết hormon cận giáp

Cân bằng nội môi đối với canxi được điều tiết bằng một cơ chế kiểm soát ngược âm tính không phụ thuộc tuyến yên. Chính nồng độ canxi ion hóa trong máu điều hòa sự tiết PTH của các tuyến cận giáp. Ngoài ra, còn một số các yếu tố khác tham gia vào điều hòa nồng độ PTH như magie, các chất chuyển hóa của vitamin D, nồng độ AMP vòng của các tế bào cận giáp.

Khi thiếu magie nặng, ở máu sẽ xảy ra giảm canxi huyết và PTH trong máu. Nồng độ 1-25 dihydroxycholecanxiferol trong máu có xu hướng làm giảm tiết PTH.

PTH chỉ tham gia một phần vào sự cân bằng nội môi của canxi-phospho, ngoài ra còn có canxitonin và vitamin D cũng có ảnh hưởng đối với chuyển hóa này.

2. Cường chức năng tuyến cận giáp

2.1. Định nghĩa

Cường cận giáp là hội chứng bệnh lý chuyển hóa liên quan đến sự tiết hormon quá mức của các tuyến cận giáp do u hoặc tăng năng tuyến.

2.2. Nguyên nhân

+ Nguyên nhân tại tuyến.
– Adenoma.
– Tăng sản tuyến cận giáp.
– Ung thư (carcinoma).

+ Nguyên nhân nằm ở ngoài tuyến cận giáp.
– Carcinoma tuyến giáp.
– Pheochromocytoma.
– Chiếu tia xạ vùng cổ.
– Sau điều trị bằng lithium carbonat.

2.3. Cơ chế bệnh sinh

Hormon tuyến cận giáp tiết quá nhiều sẽ tác động lên xương làm tăng hoạt tính hủy cốt bào. Trong quá trình hủy cốt bào, axit citric được tiết ra gây tình trạng toan hóa tại chỗ và dẫn đến huy động phospho và canxi từ xương vào máu. Thiếu canxi và phospho ở xương tạo thành các nang xương, thay thế tổ chức xương bằng tổ chức xơ, xương bị mềm, dễ uốn cong, dễ gãy.

Hormon tuyến cận giáp ức chế tái hấp thu phospho ở ống lượn gần, tăng bài tiết phospho theo nước tiểu gây giảm nồng độ phospho trong máu. Do vậy, cơ thể sẽ điều động phospho vô cơ từ xương vào máu. Ngược lại, hormon cận giáp ngăn cản bài tiết canxi qua thận gây tăng canxi máu. Tăng canxi máu sẽ làm giảm kích thích thần kinh và giảm trương lực cơ.

Do tăng canxi máu dẫn đến tăng canxi niệu sẽ ức chế tác dụng của ADH tại ống lượn xa và ống góp gây tiểu nhiều, uống nhiều (đái tháo nhạt thứ phát do thận). Mặt khác, tăng canxi máu và nước tiểu còn là nguyên nhân của sỏi thận, vôi hóa thận.

2.4. Lâm sàng

2.4.1. Biểu hiện tại thận

Cơn đau quặn thận do sỏi là một trong những triệu chứng hay gặp. Có tới 80% bệnh nhân cường chức năng tuyến cận giáp bị sỏi thận. Thường là sỏi oxalat canxi, sỏi phosphat canxi rất hiếm gặp. Có thể thấy nốt vôi hóa thận trên X quang ổ bụng. Đa số bệnh nhân khát và tiểu nhiều, đôi khi tiểu ra máu. Một số bệnh nhân sỏi thận sẽ có biến chứng viêm thận-bể thận, suy thận và teo thận.

2.4.2. Biểu hiện tại xương

Thể điển hình nhất có các biểu hiện về xương mà trước đây được gọi là viêm xương xơ và nang hóa. (Bệnh Von Recklinghausen xương – osteitis fibrosa cystica). Biểu hiện đau ở các xương dài, cột sống, xương chậu. Tính chất đau vừa phải, có khi đau buốt tới xương, có thể xảy ra gãy xương tự nhiên, lâu liền. Răng rụng sớm, biến dạng ở xương xảy ra muộn hơn.
Cũng có thể tăng axit uric máu gây bệnh gút thực thể với đầy đủ các biểu hiện của bệnh.

2.4.3. Biểu hiện thần kinh-cơ

Có thể yếu cơ mức độ trung bình hoặc nặng gây khó khăn khi vận động, cơ bị teo. Yếu cơ còn có thể do thoái hóa thần kinh.
Đa số bệnh nhân rất mệt mỏi, lo lắng, trầm cảm, có thể lú lẫn, trí nhớ giảm, dễ bị ức chế, tăng phản xạ thần kinh. Các triệu chứng tâm thần có thể xuất hiện rất đa dạng từ ức chế mức độ nhẹ đến loạn thần nặng.

2.4.4. Biểu hiện tiêu hóa

Chán ăn, buồn nôn, đau thượng vị, táo bón, có thể loét dạ dày-hành tá tràng với đặc điểm hay bị tái phát; viêm tụy bán cấp hoặc cấp tính.

2.4.5. Các biểu hiện khác

Ở một số bệnh nhân có tăng huyết áp có lẽ liên quan đến thận. Trên điện tim có QT ngắn lại.

Ngoài canxi hóa ở thận, có thể gặp canxi hóa thành động mạch lớp áo giữa, ở mô kẽ, rải rác đôi khi ở mắt, da gây ngứa.

Thể trạng chung thường là mệt mỏi, sút cân, có thể thiếu máu do xơ hóa tủy xương.

2.5. Xét nghiệm

– Canxi ion hoá tăng trên 2,75 mmol/l, nồng độ Ca++ có giá trị hơn canxi toàn phần.
– Nồng độ hormon cận giáp (PTH) tăng.
– Canxi niệu/24 giờ tăng.
– Chlorid máu tăng, tỷ lệ chlorid/phosphat > 33.

3. Hình ảnh học

Case 1: Bệnh nhân nữ 65 tuổi. Xét nghiệm tăng canxi huyết,  PTH 270 ng/l

Hình cắt dọc vùng cổ. Cấu trúc giảm âm, bờ rõ nằm ở phía sau cực dưới thùy giáp trái.

Chụp đồng vị phóng xạ với Tc99m MIBI (Tc99m MIBI scintigraphy). Adenoma tuyến cận giáp thường bắt giữ muộn chất phóng xạ, ngay cả sau khi chất phóng xạ đã thải hết ở tuyến giáp.

Kết luận: Adenoma tuyến cận giáp (Parathyroid adenoma)

Case 2: Bệnh nhân nữ 35 tuổi đau nhức xương, PTH – 291

 

Hình ảnh Xquang CSTL thẳng, cho thấy loãng xương

Hình ảnh Xquang CSTL nghiêng, cho thấy loãng xương

Các hình ảnh siêu âm cho thấy một khối có vỏ bao, bắt tín hiệu doppler mạnh ở sau tuyến giáp

Kết luận: Adenoma tuyến cận giáp

Case 3: Bệnh nhân nam 70 tuổi, có một khối được sờ thấy ở cổ phải. Trước đây đã được cắt thùy giáp trái do nhân lành tính.

Hình ảnh siêu âm cho thấy một cấu trúc giảm âm nhẹ, tách biệt và nằm sau thùy giáp phải


Hình ảnh CT axial cho thấy một cấu trúc tỷ trọng không đồng nhất ở phía sau thùy giáp phải, giới hạn rõ


Hình ảnh CT coronal cho thấy khối ngấm thuốc không đồng đều, không có thành phần nang hoặc vôi hóa


Hình ảnh đại thể


Hình ảnh đại thể cắt ngang

Kết luận: Adenoma tuyến cận giáp

Case 4: Bệnh nhân nữ 45 tuổi bị sỏi thận tái phát

X quang bụng cho thấy sỏi thận hai bên


X quang ngực cho thấy dấu hiệu bao phủ rốn phổi (hilum overlay sign), chứng tỏ có khối ở trung thất ở trên rốn phổi phải


Chụp đồng vị phóng xạ chứng tỏ adenoma tuyến cận giáp

Kết luận: Adenoma tuyến cận giáp

Case 5: Bệnh nhân nữ 40 tuổi, mệt mỏi và yếu cơ trong 6 tháng nay. Xét nghiệm máu cho thấy tăng calci huyết và nồng độ cao của PTH, làm tăng sự nghi ngờ của cường tuyến cận giáp.

Hình ảnh siêu âm cho thấy khối giảm âm phía sau thùy giáp trái

Hình ảnh siêu âm cho thấy khối bắt tín hiệu doppler mạnh

Các hình ảnh chụp đồng vị phóng xạ

Kết luận: Adenoma tuyến cận giáp

 

VẤN ĐỀ VÀ SAI LẦM PHỔ BIẾN TRONG SIÊU ÂM 4D

Điều chỉnh những sai lầm siêu âm 4D khuôn mặt

Hoàng Văn Trung

Hình ảnh mờ nhạt

Đây là vấn đề ít quan trọng, nhưng phổ biến nhất. Hình ảnh 4D mờ bao gồm một loạt các vấn đề tiềm ẩn. Dưới đây là các giải pháp phổ biến nhất cho vấn đề này:

Hình ảnh 4D mặt thai nhi bị mờ nhạt

  • Bạn đang sử dụng thiết lập 4D sai và / hoặc các thiết lập không được tối ưu hóa. Bạn cần phải làm việc với máy của bạn và tìm các cài đặt tốt nhất có thể.
  • Gain của bạn quá cao. Một hình ảnh mờ thường có nghĩa là độ khuếch đại của bạn quá cao và các ảnh giả che trước mặt.
  • Gain của bạn quá thấp. Một hình ảnh tối, mờ thường chỉ ra rằng gain của bạn quá thấp và siêu âm sẽ không hiển thị chi tiết.
  • Mẹ thừa cân dẫn tới khoảng cách quá xa. 
  • Bạn có một góc chụp ảnh xấu nhưng không biết.
  • Bạn đang sử dụng các nút điều hướng theo trục quá nhiều (X, Y và Z) và máy không thể hiển thị một hình ảnh rõ ràng.
  • Ối ở trước mặt em bé quá ít, hãy thử dùng tay ấn vào khoang ối lớn nhất để đẩy nước ối ra nhiều trước mặt em bé. Nếu bạn đang dùng một tay để cầm đầu dò, còn tay kia bận thao tác các nút trên máy thì hãy nhờ người mẹ ấn.

  • Bạn đã để đầu dò ở giữa bụng và đầu dò quá xa khuôn mặt. Thường gặp hơn, bạn phải để đầu dò sát xương chậu mẹ và hướng về phía cổ tử cung.
  • Nhau thai đang cản chùm tia siêu âm. Nhau thai ở trên hoặc trên mặt dẫn đến hình ảnh “nhiễu hạt” hoặc “mờ” và bạn không thể có được hình ảnh tốt. Cách tốt nhất là thử di chuyển đường ngang trong hộp ROI giữa nhau thai và khuôn mặt để thu được tốt nhất cỏ thể.

Bạn có một hình ảnh 2D lý tưởng, nhưng 4D không rõ

Dòng kẻ trắng ở hình 4D tương ứng với một lát mà bạn nhìn thấy trong hình ảnh 2D

Thông thường, điều này xảy ra vì các vật cản không hiển thị trong hình ảnh 2D. Điều này xảy ra bởi vì hình ảnh 2D chỉ cho thấy một lát mỏng của khuôn mặt của em bé. Hình ảnh 4D sẽ lấy toàn bộ bề mặt của khuôn mặt. Đây là một khái niệm khó hiểu, nhưng không có cách nào tuyệt vời hơn để giải thích nó mà không học khóa đào tạo siêu âm 4D chính thức. Hãy thử nhìn vào hình ảnh bên phải. Nó hiển thị hình ảnh 2D song song với hình ảnh 4D. Đường thẳng ở giữa hình ảnh 4D thể hiện phần mỏng mà bạn nhìn thấy trong 2D. Mọi thứ ở bên trái hoặc bên phải của đường màu trắng đó không được nhìn thấy trong hình ảnh 2D.

Để xem nếu có vật cản hay không, trên 2D bạn nên quét thăm dò một lượt từ trái sang phải để xem có vật cản nào khác ở phía trước mặt hay không, chẳng hạn như tay, nhau thai, cánh tay, vv. 

Một tình huống khác xảy ra khi bạn không giữ đầu dò ổn định và nó trượt qua bụng của mẹ, do đó làm mất hình ảnh của bạn. Hãy thử sử dụng ngón tay của bạn để giữ đầu dò chắc chắn trên bụng của mẹ.

Lưu ý rằng tay, cánh tay hoặc bàn chân của em bé không phải chạm vào mặt của bé để tạo ra vấn đề. Nếu chúng ở bất kỳ đâu giữa đầu dò và khuôn mặt, nó sẽ tạo ra một cái bóng trên mặt, làm cho máy không thể hiển thị hình ảnh em bé 4D.

Chân tay ở phía trước mặt

Thay đổi vị trí hoặc thay đổi góc thường không hiệu quả. Một số bác sĩ đưa cho mẹ một ít nước trái cây hoặc một cái gì đó ngọt ngào để có được em bé vận động tích cực hơn. Nhưng một số em bé chỉ đơn giản là không muốn di chuyển.

Tay em bé che mặt

Hãy biến thử thách này trở thành cơ hội và tăng kích thước của hộp ROI của bạn. Quay trở lại chế độ 2D, nhấn nút 4D và đặt lại vị trí hộp ROI vào một vị trí phía xa của các thành phần cản trước mặt em bé. Với kỹ thuật này, bạn có thể thấy một phần khuôn mặt của em bé kèm bàn chân hoặc bàn tay, như là một phần của bức ảnh. Hãy giải thích với các bà mẹ là chân tay che mặt em bé và hẹn họ vào một dịp tiếp theo. Đây có thể là một bức ảnh tuyệt vời, đặc biệt nếu em bé đang mút ngón chân hoặc ngón tay.

Nếu không nhìn thấy mặt em bé thì ghi được hình ảnh này cũng làm bố mẹ em bé thích thú

Khó khăn từ phía bệnh nhân

Có nhiều bà mẹ than phiền tại sao không thấy rõ mặt con mình, sao các lần siêu âm trước các bác sĩ khác cắt rất rõ mà sao bây giờ không rõ, họ có nghĩ rằng có thể do trình độ của bác sĩ này yếu kém. Tuy nhiên ở những thai phụ có thành bụng quá dày, nhau ở mặt trước, ối ít, thai lớn, tư thế không thuận lợi thì rất khó khăn để thu nhận hình ảnh 4D. Đây là vấn đề vật lý và không phụ thuộc vào trình độ siêu âm của bạn. Cách giải quyết tốt nhất là nhẫn nại chờ cho bệnh nhân đi lại sau đó siêu âm lại, nhưng không phải lúc nào cũng có thể thu được hình ảnh tốt. Hoặc bạn chọn giải pháp là học cách tư vấn và giải thích thật khéo léo để cho bệnh nhân hiểu. Khi thành bụng quá dày, vấn đề này gọi là sự suy giảm. Khi sóng siêu âm truyền qua cơ thể, âm thanh được cơ thể hấp thụ và chất lượng hình ảnh bị giảm đi. Máy siêu âm mới hơn khảo sát được sâu hơn, nhưng không phương pháp siêu âm nào có thể khắc phục được quy luật vật lý.

Lúc này, hãy thử cài đặt các chế độ 2D khác nhau. Nếu những máy siêu âm có thể thay đổi tần số đầu dò thì hãy giảm tần số xuống để hình ảnh được thấy rõ hơn. Nếu không, hãy tắt chế độ hòa âm mô trong máy của bạn và điều chỉnh mức gain phù hợp. Ngoài ra, bạn sẽ cần phải cho mẹ nghiêng sang hai bên, đè ép đầu dò, dùng tay ấn chỉnh thai nhi để đầu dò càng gần bé càng tốt. 

Em bé quay mặt về phía lưng của mẹ

Đây là một trong những tình huống khó khăn nhất và thường không có cách khắc phục. Bạn có thể thử một vài thứ: cho mẹ một món ngọt, chẳng hạn như nước trái cây, cho đi lại hoặc lắc lắc đầu dò vào bụng mẹ để xem liệu em bé có năng động hơn và quay mặt lại hay không. Ngoài ra, hãy chắc chắn rà soát toàn bộ diện tích ổ bụng mẹ để có được một góc nhìn thấy rõ mặt em bé hoặc thấy rõ một bộ phận khác của em bé.

Trong trường hợp thai nhỏ khoảng dưới 25 tuần, nếu em bé quay mặt ngược đầu dò, có thể ấn ROI và đặt thanh cắt trùng với mặt em bé có thể thấy được hình ảnh mặt em bé nhưng sẽ không rõ lắm.

Không thể thấy được toàn bộ khuôn mặt của em bé

Bạn sẽ không luôn lấy được hình ảnh đầy đủ của khuôn mặt trong hình ảnh 4D. Bạn muốn lấy một hình ảnh khuôn mặt đầy đủ có chất lượng nhưng đơn giản là đứa bé không luôn hợp tác với bạn.

Hãy thử các phương pháp cơ bản như cho mẹ một cái gì đó ngọt ngào, cố gắng dùng các góc độ thăm dò khác nhau, và cho mẹ nằm nghiêng trái và hoặc nghiêng phải.

Bánh nhau cản trở khuôn mặt

Đây là một tình huống rất khó khăn khác. Trong truòng hợp mặt em bé quá sát bánh nhau, bạn sẽ không thể chỉnh đúng thanh cắt của hộp ROI vào giữa khuôn mặt và nhau thai, hãy thử sử dụng lực hấp dẫn. Thường thì nếu bạn cho mẹ nghiêng về bên đối diện, đôi khi khuôn mặt của bé sẽ tách rời khỏi bánh nhau vừa đủ để lấy được một hình ảnh 4D đẹp. Nếu không, hãy giảm gain xuống nhiều nhất có thể mà không làm cho hình ảnh quá tối. Việc giảm gian xuống sẽ xóa hình ảnh nhau thai nhiều hơn so với hình ảnh mặt em bé.

Hình ảnh bộ xương

Thời kỳ sớm dưới khoảng 25 tuần, khi cắt 4D thì hình ảnh của em bé sẽ giống bộ xương

Khi hình ảnh đôi mắt quá tối, khuôn mặt sẽ trông giống một bộ xương. Điều này thường xảy ra vì hai lý do:

  1. Thời kỳ sớm, chẳng hạn khoảng 22 tuần hoặc trước đó, thường nhìn sẽ giống xương hơn. Hãy thử làm mịn hình ảnh với điều chỉnh độ mịn hoặc kiểm soát chế độ trộn lẫn (thông thường nó có vài thông số trên từng máy siêu âm khác nhau)
  2. Mức gain của bạn quá thấp. Nếu khuôn mặt của em bé cách xa đầu dò và có những vật cản, đôi khi bạn không thể nhìn xung quanh. Chỉ cần cố gắng tăng dần mức gain cho đến khi bạn có thể khiến hình ảnh đôi mắt xuất hiện mờ mờ là được.

ACR TIRADS 2017 VÀ AI TIRADS 2019

Bs. Hoàng Văn Trung

Bảng phân loại ACR TIRADS 2017

Linkdown: ACR TIRADS 2017 – Anh & Việt – cdhainfo 

Theo quan điểm của một số chuyên gia cho rằng cách tính điểm của bảng phân loại ACR TIRADS 2017 chưa phù hợp. Cần thêm nhiều nghiên cứu khoa học về chủ đề này!

 

Bảng phân loại AI TIRADS 2019

Nguồn: Nhóm nghiên cứu TIRADS