Lưu trữ cho từ khóa: SIÊU ÂM THAI

Bảo vệ: HƯỚNG DẪN SIÊU ÂM THAI QUÝ HAI (GUIDE FOR THE SECOND TRIMESTER ULTRASOUND)

Nội dung này được bảo mật. Hãy nhập mật khẩu để xem tiếp:

TỔNG QUAN VỀ SONG THAI VỚI MỘT THAI LƯU (REVIEW OF TWIN PREGNANCIES WITH SINGLE FETAL DEATH)

Mất một thai của song thai trong ba tháng đầu không phải là trường hợp hiếm gặp. Mất một thai trong ba tháng đầu dường như không làm hư hại đến sự phát triển của thai còn sống. Tuy nhiên, cái chết của thai nhi xảy ra sau giai đoạn giữa thai kỳ (thai 17 tuần tuổi) có thể làm tăng nguy cơ thai chậm phát triển trong tử cung, sinh non, tiền sản giật và chết chu sinh. Các nguyên nhân gây tử vong cho thai nhi khác nhau bao gồm truyền máu song thai, thiếu nhau thai, chậm phát triển trong tử cung liên quan đến tiền sản giật, chèn dây rốn, thắt dây rốn, dây rốn quấn cổ và bất thường bẩm sinh. Do đó, các đánh giá nối tiếp về sự phát triển và sức khỏe của thai nhi cần được xem xét.

Rối loạn đông máu của mẹ là biến chứng đáng sợ nhất sau khi một thai mất dường như không phổ biến. Tuy nhiên, rối loạn đông máu đã được báo cáo xảy ra trong khoảng 3 tuần 5 sau khi thai chết. Do đó, khi thai chết xảy ra nhiều lần khi thai sau ba tháng đầu, cần một hồ sơ về đông máu của mẹ và đánh giá lại trong 2-3 tuần. Theo dõi các yếu tố đông máu của mẹ là không cần thiết khi mất thai xảy ra trước 13 tuần tuổi thai.

Cái chết của thai nhi trong thai kỳ song sinh không phải là vấn đề hiếm gặp với tỷ lệ mắc khoảng 3,7-8,1%. Một nghiên cứu khác của Enbom đã báo cáo rằng tỷ lệ mang thai đôi với một trường hợp tử vong dao động từ 3,5 đến 7,8%. Nguyên nhân gây bệnh thường gặp nhất là do bệnh lý mạch máu. Thông nối mạch máu phổ biến hơn ở thai chung bánh nhau và có thể dẫn đến TTS, ảnh hưởng đến thai còn lại trong trường hợp một thai chết, nhưng biến chứng này hiếm gặp ở song thai hai bánh nhau. Trong một số nghiên cứu như nghiên cứu của Karl, có một bánh nhau chỉ 83%. Trong song thai hai bánh nhau, tiên lượng cho thai còn sống tương đối tốt và sự non yếu là yếu tố nguy cơ chính. Trong trường hợp song sinh một bánh nhau, tiên lượng kém và liên quan đến tổn thương thần kinh ở thai còn sống. Cái chết của một thai nhi có thể dẫn đến tổn thương não do thiếu máu cục bộ của thai còn sống bằng cách gây giảm huyết áp đột ngột và cản trở việc cung cấp máu cho thai còn lại. Trong song thai một buồng ối, cái chết của một thai có thể gây ra sự vỡ đột ngột của lớp màng mỏng giữa chúng, một lần nữa dẫn đến giảm huyết áp đột ngột và gây chết thai còn lại.

Những bà mẹ có song thai chết đơn ở tuần 33 tuần trở lên cho thấy cơ hội sống sót tốt hơn cho thai còn lại. Hiếm khi thai chết đơn gây ra sự giải phóng fibrin và thromboplastin mô trong máu, gây ra DIC. Mặc dù nó là một biến chứng rất hiếm gặp, nó có thể gây tử vong cho cả mẹ và thai nhi. Một tác dụng phụ khác của thai chết đơn là thuyên tắc xuyên màng đệm, dẫn đến chết thai còn lại.

Tỷ lệ sống sót thai còn lại khoảng 60%. Người không thể cứu được đã chết vì thai nhi trong tam cá nguyệt thứ hai, trong đó người mẹ có PET và thai nhi không sống sót khác bị bệnh tim bẩm sinh. Trong một nghiên cứu của Aslan và cộng sự, khoảng thời gian trung bình được báo cáo giữa cái chết của một thai nhi và sinh nở là 11 ngày, nhưng chúng có thể kéo dài đến 5 tuần. Hậu sản là không có vấn đề trong hầu hết các trường hợp và hầu hết các em bé sinh ra đều bình thường và có thể không có bất kỳ dị tật nào.

Di chứng của một thai chết lưu trong thai kỳ song sinh phụ thuộc vào thai kỳ và nhau thai. Cái chết trong tam cá nguyệt thứ hai hoặc thứ ba có liên quan đến tỷ lệ mắc bệnh và tử vong đáng kể ở thai còn sống. Do đó, tất cả các trường hợp mang thai đôi với một thai nhi chết nên được quản lý tại các bệnh viện có sự hỗ trợ đầy đủ cho trẻ sơ sinh. Một kế hoạch quản lý nên được cá nhân hóa. Cần giám sát chặt chẽ thai nhi và việc xác định tình trạng nhiễm trùng phải được thực hiện sớm trong thai kỳ. Chăm sóc và quản lý đúng cách có thể cứu vãn một số lượng lớn trẻ sơ sinh.

Tài liệu tham khảo:

  1. www.fetalhealthfoundation.org/fetal-syndromes/twin-to-twin-transfusion-syndrome/
  2. Jain D, Purohit RC. Review of twin pregnancies with single fetal death: management, maternal and fetal outcome. J Obstet Gynaecol India. 2014 Jun;64(3):180-3. doi: 10.1007/s13224-013-0500-5. Epub 2014 Feb 27. PMID: 24966501; PMCID: PMC4061330.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

SIÊU ÂM DOPPLER ĐỘNG MẠCH RỐN

Bs. Hoàng Văn Trung

Tóm tắt
1. Dưới 18 tuần sẽ không có phổ cuối tâm trương.
2. Từ 18 tuần sẽ xuất hiện phổ cuối tâm trương và tăng dần đến cuối thai kỳ
3. R
I giảm dần về cuối thai kỳ. Từ quý 3, RI <0.8
4. Bình thường thường tỷ số S/D giảm dần về cuối thai kỳ
-Thai 26 – 30 tuần: S/D ≤ 4
-Thai 30 – 34 tuần : S/D ≤ 3,5 và RI ≤ 0,8
-Thai 34 – 40 tuần : S/D ≤ 3 và RI < 0,8

1. Tổng quan


Hình 1. Hình ảnh dây rốn bình thường

Dây rốn được thành lập ngay từ những tuần lễ đầu bao gồm hai động mạch, hai tĩnh mạch, niệu nang và cuống noãn hoàng. Tĩnh mạch rốn bên phải sau đó bị thoái hóa, phần trên của niệu nang trở thành dây chằng niệu rốn, ống rốn mạc treo hay cuống noãn hoàng bị bít lại. Sau đó bên trong dây rốn chỉ còn lại hai động mạch và một tĩnh mạch. Các mạch máu dây rốn được bao bọc bởi chất thạch Wharton và phủ ở ngoài bởi một lớp màng ối. Máu chứa nhiều oxy từ nhau sẽ theo tĩnh mạch rốn đến thai nhi qua thành bụng, vào gan qua tĩnh mạch cửa. Máu ít oxy từ động mạch chủ bụng sẽ qua động mạch hạ vị vào hai động mạch rốn để trở về bánh nhau.


Hình 2. Hình ảnh dây rốn thắt nút

Không có sự thay đổi đáng kể theo từng ngày trong thai kỳ với dạng sóng Doppler động mạch rốn bình thường. Lưu lượng máu tĩnh mạch rốn tăng khi thai nhi hít vào (bụng của thai nhi thóp lại) và giảm khi thở ra (bụng thai nhi phồng ra). Ngoài ra còn có sự liên quan đến nhịp đập của động mạch và các nghiên cứu Doppler động mạch rốn cho thấy nên trách thu phổ Doppler khi thai thở mạnh. Sự vận động mạnh của mẹ có thể gây tăng nhịp tim thai nhưng tập thể dục nhẹ đến trung bình không ảnh hưởng đến trở kháng dòng chảy của động mạch rốn. Các dạng sóng của động mạch rốn không bị ảnh hưởng bởi các trạng thái hành vi của thai nhi như ngủ hoặc thức. Mặc dù, trong một số rối loạn thai kỳ (như tiền sản giật), độ nhớt của máu thai nhi tăng lên, góp phần tăng trở kháng trong động mạch rốn tối thiểu so với bệnh lý nhau thai cùng tồn tại. Do đó, độ nhớt của máu thai nhi không cần phải xem xét khi giải thích các chỉ số Doppler rốn.

Theo thời gian thai kỳ, dạng sóng Doppler động mạch rốn cho thấy sự gia tăng về tốc độ cuối tâm trương và giảm các chỉ số trở kháng. Khi bộ lọc phổ bị tắt hoặc được đặt ở giá trị thấp nhất, tần số cuối tâm trương có thể được phát hiện từ sớm lúc khoảng 10 tuần, và trong các trường hợp mang thai bình thường chúng luôn có mặt từ 15 tuần.

a. Dòng chảy cuối tâm trương:

Bình thường

  • Ở thời điểm thai nhỏ hơn 18 tuần, phổ Doppler bình thường của động mạch rốn đặc trưng bởi không có dòng chảy cuối tâm trương (absent end-diastolic flow).
  • Bắt đầu từ 18 tuần xuất hiện dòng chảy cuối tâm trương (end-diastolic flow), đồng thời tăng cung lượng tim và tăng cả vận tốc tâm thu lẫn tâm trương.  

Bất thường:

  • Có dòng chảy cuối tâm trương khi thai dưới 18 tuần.
  • Dòng chảy cuối tâm trương thấp hoặc âm khi thai trên 18 tuần.

b. Tỷ số vận tốc giữa tâm thu và tâm trương (S/D radio = Systolic/Diastolic radio)

Bình thường

Tỷ số cho biết thông tin về kháng lực mạch máu của tuần hoàn tử cung nhau. Bình thường tỷ lệ S/D tỷ lệ nghịch với tuổi thai, tức là S/D giảm dần về cuối thai kỳ. Nguyên nhân là do thai càng lớn, nhu cầu dinh dưỡng của thai càng cao, máu cung cấp cho thai nhi đến từ tĩnh mạch rốn càng nhiều thì máu trở về bánh nhau từ động mạch rốn phải gia tăng.

  • Thai 26 – 30 tuần: S/D ≤ 4
  • Thai 30 – 34 tuần : S/D ≤ 3,5 và RI ≤ 0,8
  • Thai 34 – 40 tuần : S/D ≤ 3 và RI < 0,8

Bất thường:

Tỷ lệ S/D được coi là bất thường khi chúng vượt quá đường bách phân vị thứ 95 hoặc nằm dưới đường bách phân vị thứ 5. Tỷ lệ S/D tăng vượt quá giới hạn cho phép khi trở kháng của bánh nhau tăng cao. Điều này sẽ dẫn đến làm tăng nguy cơ thai suy và thai lưu.

c. Tỷ số trở kháng của động mạch não giữa trên động mạch rốn

Bình thường

Đây là một chỉ số có thể đánh giá sự bất thường của thai trong tử cung. Trong thai nghén bình thường, thành phần tâm trương ở động mạch não giữa thấp hơn phần tâm trương của động mạch rốn ở bất kỳ tuổi thai nào. Bình thường tỷ số này lớn hơn 1

Bất thường

Nếu khi thai có tình trạng thiếu oxy sẽ có sự đảo ngược tuần hoàn, dòng tâm trương động mạch rốn sẽ giảm đi và dòng tâm trương động mạch não giữa sẽ tăng lên, làm cho trở kháng động mạch rốn tăng lên và trở kháng của động mạch não giữa giảm đi, biểu hiện bởi tỷ số não rốn < 1.

d. Chỉ số PI và RI

2. Minh họa


Hình 3. Minh họa một vài trường hợp bình thường và bất thường

3. Lưu ý

a. Khi lấy phổ Doppler, cổng lấy mẫu nên đặt bao trùm cả động mạch và tĩnh mạch rốn.

Hình 4. Cần đặt cổng Doppler trùm cả động mạch và tĩnh mạch rốn

b. Vị trí lấy mẫu Doppler ở dây rốn ảnh hưởng đến dạng sóng Doppler. Đặc biệt tại vị trí cuống rốn cắm vào thành bụng thai nhi, vị trí cuống rốn tự do và vị trí cuống rốn cắm vào bánh nhau. Các chỉ số trở kháng cao hơn đáng kể ở phía thai nhi so với phía nhau thai. Trở kháng cao nhất tại vị trí cuống rốn cắm vào thành bụng thai nhi, việc thiếu vắng hoặc đảo ngược dòng chảy cuối tâm trương có thể được thấy đầu tiên tại vị trí này. Tuy nhiên, trong trường hợp đa thai hoặc khi so sánh các chỉ số đo tại nhiều thời điểm khác nhau thì việc khảo sát Doppler tại những vị trí cố định (cuống rốn cắm vào thành bụng thai nhi, cuống rốn cắm vào bánh nhau hoặc cuống rốn tự do trong ổ bụng) có thể đáng tin cậy hơn.

c. Trong trường hợp đa thai, khảo sát động mạch cuống rốn có thể khó vì khó xác định cuống rốn thuộc về thai nào. Tốt hơn hết ta khảo sát Doppler xung tại vị trí cuống rốn cắm vào thành bụng thai nhi. Tuy nhiên, trở kháng ở đây sẽ cao hơn tại vị trí cuống rốn tự do và vị trí cuống rốn cắm vào bánh nhau, vì thế cần đối chiếu với trị số tham khảo tương ứng.

d. Ở những trường hợp chỉ có một động mạch rốn, thì đường kính động mạch rốn đơn độc sẽ cao hơn so với trường hợp có hai động mạch rốn thông thường. Do đó các chỉ số Doppler (RI, PI và S/D ratio) ở động mạch rốn đơn độc sẽ thấp hơn so với trường hợp có hai động mạch rốn.

e. Minh họa trường hợp siêu âm đúng và sai


Hình 5. Hình bên trái đạt yêu cầu và hình bên phải không đạt. Ở hình bên phải, phổ Doppler quá nhỏ và tốc độ quét quá chậm.


Hình 6. Hình bên trái đạt yêu cầu và hình bên phải không đạt. Doppler xung động mạch rốn trên cùng một thai nhi, cách nhau 4 phút. Hình bên trái có phổ bình thường, hình bên phải có dòng cuối tâm trương rất thấp, không có tín hiệu sát đường cơ sở chế độ lọc thành quá cao.

Tham khảo: