Chuyên mục lưu trữ: Tổng hợp

Y HỌC THỰC CHỨNG TRONG NGÀNH X QUANG

Nguồn: https://bsxqtuan.wordpress.com

Y học thực chứng (evidence-based medicine) đang phát triển trong các trường Y khoa và các chương trình đào tạo ở khắp Châu Âu và Bắc Mỹ. Các bác sỹ và sinh viên y khoa luôn cố gắng hành động và quyết định y học dựa trên bằng chứng tốt nhất hiện có. Với uy lực của các thử nghiệm ngẫu nhiên, chúng ta có sẵn các nguồn bằng chứng có giá trị để trợ giúp việc ra quyết định y học; dựa vào những nguồn bằng chứng đó chúng ta có thể đưa ra các quyết định chẩn đoán, tiên lượng và điều trị. Các cơ sở dữ liệu tóm tắt theo cấu trúc và toàn bộ y văn cùng với các động cơ mạnh để tìm kiếm tài liệu (search engine) đã cải thiện thông tin sẵn có và khả năng tìm kiếm tài liệu mới phát sinh.

Kết hợp y học thực chứng vào quá trình quyết định y học được Sackett và đồng sự [1] định nghĩa “sử dụng bằng chứng tốt hiện hành một cách sáng suốt, dứt khoát và chu đáo trong các quyết định chăm sóc từng người bệnh”. Sử dụng y học thực chứng, người nhân viên y tế nhận được sự trợ giúp hữu ích trong việc ra các quyết định y tế thông qua tìm kiếm thích hợp, đánh giá và áp dụng thông tin thích đáng. Những quyết định đó có tính hệ thống và là sự kết hợp của kiến thức, kinh nghiệm, sự thành thạo lâm sàng của cá nhân với bằng chứng bên ngoài thu được qua việc đánh giá tập trung nghiên cứu tìm được.

Hai hệ thống tri thức đó (tri thức cá nhân và bằng chứng tốt hiện hành) phải hoạt động với nhau. Không có chất lượng khoa học của bằng chứng bên ngoài ủng hộ thì thực hành lâm sàng có nguy cơ lỗi thời nhanh chóng. Không có kiến thức, kinh nghiệm và sự thành thạo của cá nhân thì y học thực chứng chỉ như “sách dạy nấu ăn” và giá trị của việc đánh giá những vấn đề của từng người bệnh cũng mất đi. Thực hành tốt y học thực chứng giúp các nhân viên y tế trong việc xác định và áp dụng chẩn đoán hoặc can thiệp hiện hành hiệu quả nhất đối với vấn đề của người bệnh.

Theo truyền thống, giáo dục y học dùng các phương pháp giảng sư phạm dựa vào sinh lý bệnh, thông tin từ kinh nghiệm và sự tinh thông của các bác sỹ lâu năm có tay nghề giỏi. Phương pháp này được gọi là “y học dựa trên danh tiếng” [2]. Bác sỹ lão luyện giảng dạy, các người học lắng nghe, ghi chép, nhớ thông tin và chính họ kế tục mẫu hình người thầy này. Họ được khuyến khích tìm lời khuyên để giải quyết vấn đề và ra quyết định từ những người thầy, nhưng họ không thường xuyên chất vấn những ý kiến đưa ra.

Friedland [3] đã miêu tả 4 đặc điểm của giảng dạy y học truyền thống:

  1. Kinh nghiệm cá nhân người thầy thuốc tạo nền móng cho chẩn đoán, điều trị và tiên lượng. Mức độ uy quyền của người thầy tỷ lệ thuận với ảnh hưởng của kinh nghiệm cá nhân.
  2. Sinh lý bệnh tạo cơ sở cho thực hành lâm sàng.
  3. Huấn luyện y học truyền thống và kinh nghiệm thông thường đủ để người thầy thuốc đánh giá các xét nghiệm và điều trị mới.
  4. Chuyên môn và kinh nghiệm lâm sàng trong một lĩnh vực đã có của người thầy thuốc là đủ để phát triển các hướng dẫn thực hành lâm sàng.

Những đặc điểm của y học thực chứng có sự khác biệt và có thể diễn tả như sau:

  1. Khi có điều kiện, người thầy thuốc nên sử dụng thông tin từ các nghiên cứu không bị chệch (unbiased), có thể lặp lại và hệ thống để làm tăng độ tin cậy đối với tiên lượng thực, hiệu quả điều trị, sự hữu ích của các xét nghiệm chẩn đoán…
  2. Hiểu sinh lý bệnh là cần thiết nhưng không đủ để thực hành y học lâm sàng.
  3. Hiểu một số quy tắc nhất định của bằng chứng là cần thiết để đánh giá và áp dụng các phát hiện từ y văn một cách hiệu quả

Xem lại báo cáo của Abraham Lexner năm 1910 [4] người ta thấy vào thời điểm đó y học đã tiến triển từ việc các người mới vào nghề học lại từ các người thầy trở thành một nền khoa học y sinh làm cơ sở cho các quyết định chẩn đoán và quản lý. Các quyết định y học phụ thuộc vào sự hiểu biết thấu đáo sinh lý bệnh và các phán xét lâm sàng tích lũy được. Các bằng chứng chúng ta sử dụng hiện nay được ủng hộ bởi các nghiên cứu được thiết kế một cách khoa học để đánh giá giá trị các tiêu chuẩn chẩn đoán và các quyết định quản lý. Tất cả các bằng chứng đó được thu thập bằng một cơ chế tinh vi và chính xác để tìm kiếm y văn rút ra thông tin cụ thể.

Mặc dù hiện nay nội dung cốt lõi của các chuyên khoa y không thay đổi, nhưng một trong những đóng góp quan trọng của y học thực chứng là chuyển sự tập trung của việc học để ghi nhớ các sự kiện thành kỹ năng phân tích bằng phương pháp tiếp cận và kiểm tra thông tin sẵn có, đánh giá độ tin cậy và tính chính xác của nó, xem xét áp dụng thông tin đó vào tình huống cụ thể. Trước đây việc phân tích quyết định và chuyển kiến thức hoặc kinh nghiệm được áp dụng để trợ giúp người thầy thuốc trong những trường hợp bất định hoặc mới.

Khái niệm y học thực chứng thích hợp với nhu cầu của các học viên trưởng thành. Cách trình bày sư phạm của sách giáo khoa không đáp ứng đủ nhu cầu của người học, bởi vì nó thường là biên soạn của một cá nhân đối với khối lượng lớn thông tin và kinh nghiệm mà không có sự kiểm định độ chính xác hoặc hiệu lực; thông tin này có thể không liên quan đến vấn đề lâm sàng hiện tại và các yêu cầu của bác sỹ, và có thể phản ánh sự thiên vị của người viết sách giáo khoa. Thông tin trong các chương trình giảng dạy được thiết kế tốt có thể không tạo thành nền tảng đối với việc thu nhận kiến thức của học viên nếu nó không phản ánh và không áp dụng để giải quyết vấn đề.

Bước khởi đầu trong việc ra quyết định y học là tập trung thông tin để đưa ra giải pháp hoặc nhận dạng vấn đề để gạn lọc và đánh giá. Vấn đề hiện nay có thể được xác định trong mối quan hệ với kinh nghiệm có trước, hoặc thông tin có thể được chuyển thành những trường hợp đại diện. Các kết quả của một nghiên cứu có thể hoặc không thể áp dụng một cách chính xác với giai đoạn bệnh cụ thể nào đó, nhưng người thầy thuốc phải luôn ý thức rằng sự biến đổi cá thể đại diện cho một kinh nghiệm riêng lẻ trong một mức rộng của các kinh nghiệm liên quan.

Khi đối mặt với tình huống y học khó giải quyết, người bác sỹ sẽ định hình vấn đề y học, xác định thông tin cụ thể cần thiết, tìm thông tin liên quan tới vấn đề đã được nhận thức này, đánh giá thông tin để chứng thực độ chính xác và áp dụng giải quyết tình huống cụ thể. Các hoạt động trong y học thực chứng có ba thành phần chính là ra quyết định (lựa chọn khả năng chẩn đoán phân biệt hoặc xác định một vấn đề), truy cập thông tin y học thích hợp, đánh giá tính chính xác của thông tin y học đó.

Rosenberg và Donald [5] miêu tả bốn thành phần cơ bản của y học thực chứng:

  1. Bước đầu tiên là nhận ra sự cần thiết thông tin. Nhu cầu này biểu hiện dưới dạng một khoảng trống kiến thức hoặc kinh nghiệm, một sự mâu thuẫn về thông tin hoặc phương hướng, một câu hỏi được bác sỹ lâm sàng hoặc bệnh nhân đặt ra, hoặc mong muốn tìm hiểu về một thực thể bệnh nào đó. Từ hoạt động này, một câu hỏi có trọng tâm (hoặc câu hỏi liên quan) được dựng lên.
  2. Bước tiếp theo là nhập câu hỏi vào tìm kiếm tài liệu. Việc tìm tài liệu nên càng tập trung càng tốt để thu được thông tin hữu ích nhất.
  3. Một khi đã thu thập được tài liệu từ y văn, cần đánh giá sự hữu ích, khả năng áp dụng và tính chính xác (validity) của nó.
  4. Cuối cùng, các kết quả của việc tìm kiếm được trình bày, thảo luận, hoặc áp dụng cho vấn đề sắp đến. Người học khôn ngoan cũng sẽ giám sát các kết quả (hoặc kết cục) để phát triển kinh nghiệm bản thân.

Dạy các kỹ thuật của y học thực chứng cho các bác sỹ ngay từ đầu quá trình đào tạo là hợp lý để họ có các nguyên tắc cơ bản đặt câu hỏi và giải quyết vấn đề, đánh giá y văn và chuẩn bị cho họ thực hành việc học suốt đời và tìm thông tin mới. Trong trường y khoa và đào tạo nội trú, các giảng viên nên làm mẫu hình trong cách tìm kiếm tài liệu và diễn giải các nghiên cứu có giá trị.

Y học thực chứng nên được giảng dạy từ sớm trong chương trình đào tạo X quang. Chuyên khoa của chúng ta đặc trưng bởi rất nhiều kỹ thuật và ý kiến đa dạng, chúng hình thành nhiều cách tiếp cận hợp lý với hình ảnh chẩn đoán. Các cách đọc (diễn giải) kết quả và các quan sát rất đa dạng với hình ảnh chẩn đoán. Việc thiết kế và các bước của phương pháp nghiên cứu chẩn đoán cũng thay đổi tùy theo trang bị, kinh nghiệm của bác sỹ X quang và vấn đề cần giải quyết. Các thực thể bệnh rất đa dạng cũng góp phần tạo nên những tranh luận trong chẩn đoán hình ảnh. Bằng chứng đã qua kiểm định và chứng thực được tích lũy vào y văn, nó làm giàu và xác nhận thông tin, kiến thức trong cơ sở tri thức của chúng ta.

Người giảng y học thực chứng nên làm hình mẫu trong đào tạo bác sỹ X quang bởi vì họ chứng minh các tiến bộ của người học suốt đời, họ cung cấp hướng dẫn sử dụng các kỹ thuật lập và xác định vấn đề hoặc câu hỏi cần trả lời, họ đảm bảo sự phát triển các thói quen tìm hiểu một cách liên tục. Các bác sỹ nội trú nên thường xuyên được khuyến khích tham gia tìm bằng chứng khi có quan điểm bất đồng, sự hiểu nhầm hoặc có khoảng trống kiến thức.

Cách học hiệu quả nhất là tìm kiếm thông tin cụ thể và áp dụng cho những trường hợp xác thực hoặc vấn đề sắp đến. Bác sỹ nội trú nên báo cáo kết quả của việc tìm kiếm tài liệu càng sớm càng tốt để liên kết trực tiếp thông tin thực hành với vấn đề đã phân tích. Các tình huống chẩn đoán khó tạo những cơ hội tuyệt vời để mở rộng kiến thức và kinh nghiệm thông qua việc tìm kiếm y văn. Khi các bác sỹ nội trú trình bày những trường hợp bệnh ở hội nghị, những báo cáo đó nên kèm theo bằng chứng y học. Các câu lạc bộ báo chí tạo cơ hội để hoàn thành các bài tập đánh giá và phân tích tài liệu, gồm có đánh giá thiết kế nghiên cứu, áp dụng thống kê, diễn giải và áp dụng các kết quả nghiên cứu vào vấn đề lâm sàng. Phân công bác sỹ nội trú tập chủ trì một cuộc hội thảo về một chủ đề nào đó để làm người phán xét cuối cùng trong những cuộc thảo luận có nhiều ý kiến trái chiều.

Để theo kịp và tìm được y văn thích hợp, Mendelson [6] đã gợi ý chiến lược sau:

  1. Chọn một số ít các tờ báo cốt lõi để đọc lướt thường xuyên.
  2. Đọc lướt trước khi đọc kỹ; tìm các nghiên cứu mà bạn quan tâm và có thông tin mới. Điều này thường thực hiện bằng cách đọc phần tóm tắt và xác định sự thích hợp trong kết luận được trình bày.
  3. Mở rộng việc theo dõi y văn bằng cách đọc các tóm tắt trước xét duyệt (pre-reviewed summaries) và các tổng hợp dựa trên bằng chứng (evidence-based syntheses). Những phần đó ở trong các tờ báo xuất bản các tóm tắt có cấu trúc (structured abstracts) từ các bài báo đã được chọn từ nhiều tờ báo lớn; các tóm tắt theo cấu trúc này gồm có bình luận về thông tin cơ sở (bối cảnh), khả năng áp dụng, và hạn chế của các nghiên cứu.
  4. Tham gia các khóa đào tạo y học liên tục để tăng khả năng làm quen với y văn.
  5. Phát triển sự thành thạo trong việc định vị thông tin cụ thể để trả lời những câu hỏi lâm sàng có trọng tâm nảy sinh trong quá trình làm việc.
  6. Có thời gian (được cơ quan sở tại bảo hộ) để đọc và đánh giá các bài báo y học.

 ————————–

(Lược dịch từ: What’s the evidence? Wood BP. Radiology 1999; 213: 635-637.)

Tham khảo

  1. Sackett DL, Richardson WS, Rosenberg W, Haynes RB. Evidence-based medicine New York, NY: Churchill Livingstone, 1997; 2-3.
  2. Levin A. Evidence-based medicine gaining supporters. Ann Intern Med1998; 128:334-336.
  3. Friedland DJ. Introduction. In: Friedland DJ, eds. Evidence-based medicine. Stamford, Conn: Appleton & Lange, 1998; 2-3.
  4. Flexner A. Medical education in the United States and Canada: a report to the Carnegie Foundation for the Advancement of Teaching New York, NY: Carnegie Foundation, 1910.
  5. Rosenberg W, Donald A. Evidence based medicine: an approach to clinical problem-solving. BMJ 1995; 310:1122-1126.
  6. Mendelson T. Keeping up with the medical literature. In: Friedland DJ, eds. Evidence-based medicine. Stamford, Conn: Appleton & Lange, 1998;145-149.
  7. Fullerton-Smith I. How members of the Cochrane Collaboration prepare and maintain systematic reviews of the effects of health care.Evidence-based Med 1995; 1:7-8.

CÔNG CỤ TÌM KIẾM THÔNG TIN X QUANG

Nguồn: https://bsxqtuan.wordpress.com

Có hai công cụ tìm kiếm nhanh thông tin X quang rất tiện dụng đã giới thiệu với một số bạn trẻ (nội trú, cao học, chuyên khoa và sơ bộ) đó là: ARRS Goldminer (http://goldminer.arrs.org) và Yottalook (www.yottalook.com) .

Cách tìm: điền tên bệnh – kỹ thuật hoặc kỹ thuật – tên bệnh (đối kỹ thuật viên) vào cửa sổ tìm kiếm.

Kết quả tìm kiếm: 

– Hiển thị hình ảnh trong hàng trăm tạp chí Xquang có bình duyệt (peer review) hoặc ca bệnh đã qua kiểm tra. Người tìm kiếm có thể nhanh chóng tìm hình ảnh và thông tin trong các địa chỉ hoặc tạp chí tin cậy. 

– Yottalook còn cho các thông tin từ ebook, web… cho nên nhiều khi bạn thấy có quá nhiều kết quả. Hơn nữa, các nguồn thông tin không qua bình duyệt này người ta coi là grey literature, tạm gọi là “y văn xám” vì độ tin cậy của chúng khó kiểm chứng.

Có bạn hỏi nên chọn thông tin từ nguồn nào đây: bài báo, sách, hay web? 

Nói chung, original paper (bài báo gốc) hoặc systematic review (tổng quan hệ thống) “tốt” hơn sách hoặc các bài narrative review (tổng quan tường thuật).

PS: Có thể tìm hiểu thêm về ARRS Goldminer trong bài sau AJR June 2007 vol. 188 no. 6 1475-1478:

DANH MỤC TẠP CHÍ ĐƯỢC TÍNH ĐIỂM NGHIÊN CỨU KHOA HỌC (NĂM 2016 VÀ NĂM 2017)

Tạp chí được Hội đồng Chức danh GSNN tính điểm – Năm 2016

Danh muc tap chi HDCDGSNN-2016 – cdhainfo


Tạp chí được Hội đồng Chức danh GSNN tính điểm – Năm 2017

Danh muc tap chi HDCDGSNN-2017 – cdhainfo


Danh mục tạp chí quốc tế có uy tín là các tạp chí thuộc danh mục sau đây (Tham khảo):

– Danh mục tạp chí ISI của Viện Thông tin Khoa học Hoa Kỳ bao gồm: SCI (Science Citation Index), SCIE (Science Citation Index Expanded), SSCI (Social Sciences Citation Index) và A & HCI (Arts & Humanities Citation Index). Địa chỉ tra cứu danh mục thuộc tạp chí ISI: http://mjl.clarivate.com

– Tạp chí chuyên ngành quốc tế uy tín thuộc cơ sở dữ liệu Scopus của Nhà xuất bản Elsevier, Hà Lan. Scopus được xây dựng từ tháng 11 năm 2004, dành cho thuê bao trực tuyến, có trả phí. Đó là một cơ sở dữ liệu thư mục chứa bản tóm tắt và trích dẫn các bài báo khoa học. Scopus có chứa 57 triệu bản tóm tắt, gần 22.000 danh mục từ hơn 5.000 nhà xuất bản, trong đó hơn 30.000 là Tạp chí đánh giá chuyên ngành trong Khoa học, Kỹ thuật, Y tế, Xã hội, Nghệ thuật và Nhân văn. Để được liệt kê vào danh sách Scopus, các tạp chí cũng được lựa chọn nghiêm ngặt. Số lượng tạp chí nằm trong Scopus gần gấp đôi số lượng nằm trong ISI, nhưng không bao gồm tất cả mà chỉ chứa khoảng 70% số lượng của ISI. Tuy nhiên, nguồn Scopus chỉ bao gồm các bài báo xuất bản từ năm 1995 trở lại đây. Cách đánh giá chất lượng các tạp chí của Scopus cũng dựa vào chỉ số ảnh hưởng IF, nhưng nội dung website của Scopus (http://www.scopus.com) rất tiện ích khi sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, từ tra cứu tài liệu đến đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học của các cá nhân và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu. Danh sách các tạp chí Quốc tế thuộc danh mục Scopus: https://www.elsevier.com/solutions/scopus/content

– Các Tạp chí của các Nhà xuất bản có uy tín trên thế giới như: Elsevier, Springer, Wiley-Blackwell, Taylor&Francis, Sage, Oxford University Press, Cambridge University Press, Emerald, Macmillan Publisher, Inderscience Publishers, Edward Elgar Publishing.

 

 

 

KINH NGHIỆM VIẾT VÀ CÔNG BỐ BÀI BÁO KHOA HỌC

Nguồn: GS. Nguyễn Văn Tuấn – Kinh nghiệm viết và công bố bài báo khoa học 

Báo VNexpress có nhã ý hỏi tôi chia sẻ về kinh nghiệm viết bài báo khoa học. Tôi nghĩ bất cứ ai làm nghiên cứu khoa học cũng đều có những trải nghiệm khó quên, nhất là những trải nghiệm đầu tiên. Trong bài này, tôi xin chia sẻ cùng các bạn kinh nghiệm soạn và công bố bài báo khoa học, và những bài học của mỗi lần trải nghiệm. Tôi sẽ chia sẻ trong vai trò của một tác giả và người biên tập.

Những bài học rút ra từ người học trò

Bài báo đầu tiên tôi viết đã gần 30 năm trước đây và lần trải nghiệm đó thật khó quên. Tôi có hai người thầy hướng dẫn, nhưng người hướng dẫn phụ trong thực tế lại là người … hướng dẫn chính. Lí do là giáo sư hướng dẫn chính rất bận rộn, mỗi tháng chỉ gặp riêng khoảng vài phút, nhưng hàng tuần thì vẫn gặp trong các buổi họp labo. Do đó, công việc ‘cầm tay chỉ việc’ lại do một giáo sư trẻ hơn phụ trách. Vị giáo sư đó cũng bận với công việc bên bệnh viện và đại học, nên ông cũng chỉ gặp tôi mỗi tuần khoảng 10 phút để trao đổi và kiểm tra tiến độ công việc. Sự huớng dẫn của giáo mang tính định hướng, chứ không đi vào chi tiết. Người đi vào chi tiết là một nhà khoa học cấp thấp hơn, như hậu tiến sĩ chẳng hạn. Sau này tôi mới hiểu bài học thứ nhất là làm nghiên cứu sinh chủ yếu là tự học dưới sự hướng dẫn của giáo sư; do đó, năng lực cũng như kĩ năng tự học rất quan trọng.

Trước khi soạn bài báo đầu tiên, giáo sư hướng dẫn nói với tôi rằng đây là một nghiên cứu quan trọng, và ý định là sẽ công bố trên một tập san danh giá. Vấn đề là bắt đầu từ đâu? Ông khuyên tôi nên tìm đọc những bài trước đây trên tập san đó, và cứ thế mà viết theo. Thời đó, các tập san khoa học xuất bản trên báo giấy, chứ không có phiên bản trực tuyến, và tôi phải vào thư viện để sao lại những bài báo liên quan. Bài học 2 mà tôi học được là học từ những bài báo trước đã công bố trên tập san mà mình có ý định sẽ công bố.

Sau hơn 8 tuần lễ miệt mài viết, soạn hình ảnh, chỉnh sửa, và lại chỉnh sửa, cuối cùng tôi cũng có một bản thảo dài hơn 30 trang. Tôi rất tự hào với thành quả của mình, và hẹn giờ để trình bày cho giáo sư hướng dẫn xem và góp ý. Giáo sư hướng dẫn nhìn qua bản thảo của tôi, ông đột nhiên quăng vào thùng rác bên cạnh, và nhìn tôi dò xét. Lúc đó, tôi rất ngạc nhiên, có chút tức tối nhưng cũng lúng túng, không biết làm gì và nói gì. Tôi thầm nghĩ chẳng lẽ tiếng Anh của mình tệ như thế?’

Ông nhìn tôi và mỉm cười, nhặt bản thảo lên, rồi giải thích những sai sót và những chỗ chưa đúng với chuẩn mực khoa học. Vừa giải thích, ông vừa sửa (bằng bút mực đỏ), gạch bỏ chỗ này, viết thêm chỗ kia, ghi chú trên hình ảnh, v.v. Và, kết quả là một bản thảo đầy màu đỏ! Nó không còn là văn của tôi nữa. Tôi còn nhớ ông giáo sư phê bình văn viết của tôi nặng chất thơ quá và nhiều chữ rhetoric quá (có lẽ tôi xuất thân từ văn hoá Việt Nam và quen với những ví von). Lí do đơn giản là vì văn phong khoa học có những đặc thù và thuật ngữ mà chỉ có người trong chuyên ngành mới am hiểu.  Bài học 3 là tiếng Anh mà chúng ta học từ trường hay qua các kì thi như TOEFL, IELTS tuy có ích trong giao tiếp nhưng giúp rất ít vào việc viết bài báo khoa học.

Văn phong khoa học không thể ví von và màu mè, mà phải chính xác, đơn giản và có khi hình tượng. Theo Giáo sư Steven Pinker, một phần ba của bộ não con người được giành cho thị giác, và sự thật này có nghĩa là văn chương khoa học phải làm cho độc giả ‘thấy’ mục tiêu cụ thể của bài báo, và làm được điều này sẽ có hiệu ứng rất tích cực cho bài báo. Nhiều thí nghiệm đã cho thấy rằng độc giả hiểu và nhớ các thông tin tốt hơn khi thông tin được diễn tả bằng một ngôn ngữ mà họ có thể thấy bằng hình ảnh. Ngoài ra, mỗi bài báo là một câu chuyện, và cách viết kể chuyện giúp người đọc lãnh hội rất nhanh. Ngày nay, cách viết kể chuyện hay đàm thoại cũng được rất nhiều tập san khoa học khuyến cáo các tác giả nên viết.Bài học 4 mà tôi học được là viết văn khoa học phải nhắm đến kể một câu chuyện có đầu, có đuôi, và văn phong giàu hình ảnh.

Người mới bước vào khoa học như tôi thời đó chưa có tầm nhìn lớn, nên rất quan tâm (thậm chí ‘khoe’) đến phần phương pháp và kĩ thuật, nhưng người có kinh nghiệm thì quan tâm đến thông điệp chính của bài báo. Câu hỏi mà giáo sư hướng dẫn hay giày vò là tại sao bài báo này quan trọng, và cái thông điệp chính là gì. Có khi phải bỏ ra cả tuần chỉ nghĩ ra cách viết thông điệp chính. Thông điệp đó phải được viết bằng văn phong đơn giản. Giáo sư hướng dẫn thường hay chỉ tay xuống đường phố và nói với tôi rằng ‘phải viết sao cho người lái taxi vẫn hiểu được.’ Thông điệp chính phải phải nhất quán với dữ liệu, không được phát biểu những gì đi ra ngoài phạm vi của dữ liệu. Bài học 5 là nội dung và thông điệp bài báo rất quan trọng, nên cần phải đầu tư thời gian để viết cho thuyết phục.

Dữ liệu ở đây không phải là số liệu, mà còn là hình ảnh và y văn trước đây. Dữ liệu phải được trình bày bằng một hình thức trang nhã. Trang nhã từ cách chọn màu, chọn phông chữ, kích thước chữ, khoảng cách giữa các dòng chữ, v.v. đều phải đảm bảo đúng như yêu cầu của tập san. Thời đó, những hình ảnh chưa được số hóa, nên phải in trên giấy bóng, mà phải kèm theo chú thích sao cho người đọc có thể hiểu được một cách dễ dàng. Giáo sư hướng dẫn tôi thường hay nói câu tương đương với cách nói của người Việt chúng ta, ‘người đẹp vì lụa’, có nghĩa là một nội dung hay và quan trọng cần phải được cho ‘mặc’ một bồ đồ đẹp và trang nhã.Bài học 6 là hình thức trình bày dữ liệu cũng rất quan trọng.

Nhưng bản thảo chưa dừng ở đó, mà còn phải qua nhiều chỉnh sửa từ những người đồng tác giả nữa. Chỉ riêng với giáo sư trực tiếp hướng dẫn, bản thảo đã phải qua ít nhất 5 lần chỉnh sửa. Giáo sư hướng dẫn chính tuy là người ít gặp nhất, nhưng lại là người chỉnh sửa nhiều nhất. Ông nổi tiếng là người rất thông minh (học cử nhân năm 15-16 tuổi), khó tính, và rất elite, và ông kì vọng những người chung quanh phải như ông! Ông chỉnh sửa thêm, yêu cầu phân tích lại một số câu hỏi, và ‘ác mộng’ là vấn đề trình bày hình ảnh sao cho có chất lượng tốt. Ông cũng chính là người quyết định ai là tác giả đầu (tôi), ai là tác giả thứ hai (giáo sư hướng dẫn phụ), và ai là tác giả sau cùng (chính là ông). Sếp có thể không phải là người trực tiếp hướng dẫn, nhưng lại là người có tiếng nói sau cùng; đây chính là người chịu trách nhiệm chính trước công chúng, là tác giả liên lạc (correspondence author). Lúc này tôi mới học đượcbài học 7 là thứ tự tác giả rất quan trọng, vì nó cho biết ai là ‘sếp’ trong công trình nghiên cứu.

Sau giáo sư hướng dẫn chính phê chuẩn bản thảo, nó được gửi cho một tập san danh tiếng qua đường bưu điện bảo đảm. Thời đó, chưa có hệ thống nộp bài báo trực tuyến như bây giờ, nên tất cả bản thảo (4 bản sao) đều phải gửi qua bưu điện hỏa tốc. Khoảng 6 tháng sau, chúng tôi nhận được thư của ban biên tập, kèm theo những bình luận của 3 chuyên gia nặc danh trong chuyên ngành. Đọc qua 8 trang bình duyệt của họ, cảm giác đầu tiên của tôi là choáng váng. Bình luận mang tính khen có, nhưng chê thì nhiều hơn. Khổ nỗi những gì họ chê xem ra … rất có lí. Có chuyên gia đòi hỏi thêm dữ liệu mà chúng tôi không thể nào có được. Hai giáo sư hướng dẫn xem qua bình duyệt và quyết định có lẽ bài báo không có cơ hội ở tập san này (đó là tập san New England Journal of Medicine — NEJM). Bài học 8 là chuẩn bị tinh thần bị từ chối và bị chê, vì từ chối là một qui luật trong xuất bản khoa học.

Nhưng những ý kiến của các chuyên gia bình duyệt rất có ích để chỉnh sửa tiếp. Chúng tôi nộp cho một tập san khác tuy cũng có uy tín cao, nhưng thấp hơn tập san NEJM. Lại chờ thêm 4 tháng để nhận được thư bình duyệt, nhưng lần này thì khả quan và ‘thân thiện’ hơn lần trước. Ban biên tập cho chúng tôi 3 tháng trả lời các bình luận, và nộp lại bản thảo. Khi ban biên tập cho cơ hội trả lời có nghĩa là chúng tôi có … cơ may. Lại thêm một thời gian quay quần trong chu trình bình duyệt lần thứ hai – trả lời lần 2 – bình duyệt lần 3 – trả lời lần 3, v.v. tất cả tốn gần 2 tháng nữa thì bài báo mới được chấp nhận cho công bố. Như vậy, tính từ lúc hoàn thiện bản thảo đến lúc công bố mất khoảng 1 năm. Đó là thơi gian trung bình, vì trong thực tế, có những bài báo may mắn hơn và có thời gian công bố ngắn hơn, nhưng cũng có những bài báo cần đến 2 năm để có nơi công bố. Bài học 9 là mỗi lần bị từ chối là một cơ hội để cải thiện cho lần sau, tập san có uy tín càng cao thì yêu cầu về phẩm chất càng cao và họ từ chối càng nhiều.

Trả lời bình duyệt là một nghệ thuật nhưng cũng là một khoa học. Nghệ thuật là đặt vấn đề và những phê bình của các chuyên gia trong bối cảnh. Có khi cùng một dữ liệu, nhưng có chuyên gia khen, mà cũng có chuyên gia chê, và nghệ thuật ở đây là dung hoà hai quan điểm trái chiều. Tính khoa học là trả lời bình duyệt bằng chứng cứ và dữ liệu khoa học, chứ không cảm tính và tuyệt đối không được chỉ trích cá nhân. Không bao giờ bảo chuyên gia bình duyệt nên đọc bài báo này hay cuốn sách kia, vì đó là một cách trả lời rất ư mất lịch sự và thiếu tôn trọng, và bài báo rất dễ bị từ chối. Bài học 10 là trả lời các ý kiến bình duyệt một cách đầy đủ, lịch sự, và có chứng cứ.

Công bố được một vài bài báo khoa học là một thành tích, nhưng chưa thể thành thạo trong cách viết bài báo khoa học. Sau bài báo đầu tiên, tôi lao vào nghiên cứu và viết một loạt bài báo khoa học liên quan. Tuy nhiên, cứ mỗi lần tôi viết xong thì hai giáo sư hướng dẫn lại … tiếp tục sửa. Họ sửa nhiều đến nỗi đến bài thứ 5 mà tôi vẫn thấy mình hình như chẳng viết được bài nào hoàn chỉnh! Nhưng thú thật tôi thấy bài nào hai giáo sư sửa đều hợp lí và … hay. So sánh bản thảo của mình và bản thảo sau khi đã được chỉnh sửa, tôi thấy rõ ràng là mình vẫn chưa học hết kĩ năng bài báo khoa học. Thật ra, kĩ năng tiếng Anh chỉ là một vấn đề; vấn đề lớn hơn là bức tranh chung và chiến lược viết, và chiến lược thì đòi hỏi người giàu kinh nghiệm trong chuyên ngành. Phải đến bài thứ 10 và năm thứ 4 tôi mới cảm thấy mình đủ tự tin để tự mình soạn một bài báo khoa học. Do đó, đối với một người mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ, cho dù đã xong luận án tiến sĩ, thì vẫn chưa đủ khả năng để tự mình viết bài báo khoa học hoàn chỉnh.

Cơ chế bình duyệt và vận hành của ban biên tập

Theo thời gian, tôi có cơ hội đóng góp nhiều hơn cho chuyên ngành qua việc tham gia bình duyệt và biên tập. Tôi trở thành chuyên gia bình duyệt cho các tập san, và sau này được giao cho trách nhiệm cao hơn là phó biên tập (Associate Editor) cho một số tập san, trong đó có tập san JBMR, được xem là quan trọng nhất và uy tín nhất trong chuyên ngành xương. Ban biên tập bao gồm người có trách nhiệm cao nhất là tổng biên tập, đến những người có trách nhiệm thấp hơn là 4 phó biên tập, và sau cùng là khoảng 20 thành viên (board members). Mỗi nhiệm kì ban biên tập là 5 năm, nhưng cũng có người được mời ở lại đến 3 nhiệm kì (trường hợp của tôi là một ví dụ). 

Tập san JBMR nhận khoảng 1000 bài báo mỗi năm, nhưng đa số (khoảng 80%) là bị từ chối, và chỉ chấp nhận cho công bố khoảng 15-20%. Qua biên tập và quyết định chấp nhận hay từ chối bài báo, tôi nhận ra rằmg các tập san khoa học là nơi có chế độ kiểm duyệt khắt khe nhất! Thật ra, người trong khoa học không gọi đó là cơ chế “kiểm duyệt”, mà là “gác cổng khoa học.”

Qui trình và ‘số phận’ của một bản thảo bài báo khoa học nằm trong sự tương tác giữa ban biên tập và chuyên gia bình duyệt. Nói là ‘ban biên tập’, nhưng người trực tiếp phụ trách chính là phó biên tập. Theo qui trình chuẩn này, khi bản thảo bài báo được gửi đến tập san thì hàng loạt việc làm sẽ được khởi động: 

Trước hết, một nhân viên phụ tá của tập san sẽ kiểm tra bản thảo có đạt yêu cầu về cơ cấu, hình thức, và các qui định của tập san liên quan đến tài liệu tham khảo và các thông tin quan trọng. Mỗi tập san có những qui định riêng, và tác giả phải tuân thủ theo. Ngoài ra, phụ tá biên tập còn kiểm tra những câu văn có trùng hợp với các bài báo trước đây để đảm bảo đạo văn không xảy ra, hay ‘tự đạo văn’ ở mức độ có thể chấp nhận được. Bản thảo bài báo không đáp ứng các yêu cầu và qui định kĩ thuật này sẽ được trả lại cho tác giả để chỉnh sửa và nộp lại.

Sau khi phần kiểm tra kĩ thuật và qui định xong, bản thảo sẽ được tổng biên tập giao cho một phó biên tập phụ trách. Một tập san có 3-5 phó biên tập, và mỗi người phụ trách một mảng chuyên môn hẹp mà phó biên tập có tiếng. Phó biên tập đọc qua bản thảo và sẽ quyết định từ chối hay hoặc gửi ra ngoài cho các chuyên gia bình duyệt. Nếu từ chối ngay, thì tác giả sẽ được thông báo trong vòng 1 tuần bằng một lá thư tôi hay nói đùa là ‘lá thư đau lòng’ (vì câu đầu tiên là ‘tôi đau lòng báo tin rằng …’). Nếu quyết định bản thảo có thể gửi ra ngoài bình duyệt, thì 2-3 chuyên gia có tiếng trong chuyên ngành sẽ được mời bình duyệt.

Các chuyên gia bình duyệt sẽ đọc và đánh giá bài báo, viết báo cáo gửi cho phó biên tập. Báo cáo của mỗi chuyên gia tập trung vào ý tưởng, phương pháp, và cách diễn giải kết quả. Họ cũng kèm theo một khuyến cáo: (a) chấp nhận cho công bố không cần sửa; (b) cần sửa chút ít; (c) cần chỉnh sửa nhiều hay viết lại; hay (d) từ chối. Chỉ một trong 3 chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối thì khả năng bài báo sẽ bị từ chối lên rất cao.  Có nhiều trường hợp bài báo phải trải qua 3 lần bình duyệt, và tốn rất nhiều thời gian (trên 12 tháng) nhưng cuối cùng có khi vẫn bị từ chối!

Mỗi tháng, các tổng và phó biên tập họp nhau qua Skype để bàn về quyết định chấp nhận hay từ chối các bản thảo đã qua bình duyệt. Có bản thảo các chuyên gia bình duyệt đề nghị từ chối, nhưng ban biên tập có thể chấp nhận. Ngược lại, có bản thảo các chuyên gia đề nghị chấp nhận, nhưng ban biên tập quyết định từ chối. Quyết định từ chối hay chấp nhận ở cấp này thường ít dính dáng đến khoa học tính, mà cân nhắc đến khả năng bài báo được thu hút chú ý từ chuyên ngành khác hay truyền thông đại chúng, và nhất là cân nhắc đến tác giả chính. Có người trong ban biên tập tìm tác giả qua ORCID và xem thành tích trong quá khứ ra sao để quyết định nữa. Ví dụ như tuần rồi, số phận một bài từ Á châu, chúng tôi đang phân vân thì có người xem ORCID của tác giả chính và nói rằng người này đã từng có bài như thế này và chưa bao giờ được trích dẫn, và thế là đề nghị từ chối!  

Nếu bài báo được chấp nhận, tác giả sẽ nhận được thư của tổng biên tập thông báo. Sau khi xong phần khoa học, bản thảo sẽ được gửi cho bộ phận sản xuất và biên tập của nhà xuất bản. Biên tập viên của nhà xuất bản sẽ xem xét tất cả những bảng biểu và văn bản trong bài báo. Có khi họ đề nghị chỉnh sửa cách viết cho gọn hơn, rõ ràng hơn, vì nhiệm vụ của họ là tiết kiệm chữ (và qua đó tiết kiệm mực in). Sau khi tác giả đồng ý với những chỉnh sửa của biên tập viên, bài báo sẽ được công bố lập tức trên mạng, và sau đó vài tháng trên báo giấy. Dĩ nhiên, ngày nay có nhiều tập san chỉ công bố trực tuyến chứ không có báo giấy.

Đa số bài báo bị từ chối công bố

Như đề cập trên, đa số những bản thảo gửi đến ban biên tập bị từ chối. Tỉ lệ từ chối dao động rất lớn giữa các tập san. Những tập san có ảnh hưởng lớn như New England Journal of Medicine, Science, Nature, Cell từ chối khoảng 90-95% bản thảo. Nên nhớ rằng những bản thảo được gửi đến những tập san này đã rất chọn lọc. Những tập san đa có uy tín cao trong y khoa như JAMA, BMJ, Nature Medicine, Annals of Internal Medicine, Journal of Clinical Investigation có tỉ lệ từ chối bản thảo dao động trong khoảng 80 đến 90%. Những tập san hàng đầu trong chuyên ngành như nội tiết, xương khớp, ung thư, tim mạch, v.v. thì tỉ lệ từ chối cũng khoảng 70-80%. Tuy nhiên, những tập san có hệ số ảnh hưởng thấp có xu hướng chấp nhận bản thảo trên 50%, có khi lên đến 80%. Đây chính là lí do tại sao công bố trên những tập san có uy tín cao là một dấu ấn về đẳng cấp của nhà khoa học.

Bài báo khoa học bị từ chối ở 3 giai đoạn: ban biên tập, bình duyệt, và tái bình duyệt. Tỉ lệ từ chối rất khác nhau giữa 3 giai đoạn. Một nghiên cứu trên tập san British Medical Journal (một trong những tập san y khoa hàng đầu thế giới), trong giai đoạn 1 (tức ban biên tập), tỉ lệ từ chối khoảng 50% những bài báo gửi đến, mà không gửi ra ngoài để bình duyệt. Giai đoạn 2, sau khi gửi đi cho các chuyên gia bình duyệt, thì vẫn bị từ chối khoảng 45%. Ngay cả ở giai đoạn 3 là tái bình duyệt, xác suất bị từ chối là khoảng 5%.

Một trong những câu hỏi đặt ra là có sự ‘kì thị’ hay thành kiến với các tác giả từ các nước nghèo (như Việt Nam chẳng hạn)? Bằng chứng khoa học cũng cho thấy quả thật có một sự kì thị trong tiềm thức đối với các tác giả từ các nước nghèo. Trong một thí nghiệm thú vị, các tác giả chọn một số bài báo của các nhóm nghiên cứu nổi tiếng từ Mĩ, nhưng đổi nhóm nghiên cứu thành những trung tâm ở các nước nghèo (Phi châu), và gửi các bài báo cho các nhà khoa học phương Tây. Kết quả cho thấy các bài báo không được đánh giá cao và cho điểm thấp hơn những bài báo có địa chỉ từ Mĩ. Đây là một trong nhiều chứng cứ cho thấy quả thật có sự “kì thị địa lí” trong khoa học.

Kinh nghiệm cá nhân của tôi cũng nhất quán với chứng cứ khoa học. Có những bài báo của đồng nghiệp từ trong nước được tôi giúp thiết kế nghiên cứu và biên tập, và đã được góp ý từ các đồng nghiệp có kinh nghiệm cao từ Mĩ, nhưng khi gửi cho tập san vẫn bị chê là … viết sai tiếng Anh! Dĩ nhiên, khi yêu cầu chỉ ra sai chỗ nào thì chuyên gia bình duyệt không nói. Ngược lại, có bản thảo từ Úc của nghiên cứu sinh tôi, với tiếng Anh có vài chỗ sai về văn phạm và ngữ vựng (cố ý), nhưng tất cả chuyên gia bình duyệt không phàn nàn!

Tuy có sự kì thị trong tiềm thức, nhưng tỉ lệ từ chối không hẳn khác nhau giữa các quốc gia. Chẳng hạn như thống kê của các tập san y khoa lớn như New England Journal of Medicinevà JAMA cho thấy tỉ lệ từ chối bài báo từ Mĩ và ngoài Mĩ không khác nhau. Tuy nhiên, đối với các tập san chuyên ngành thì có sự khác biệt lớn, chẳng hạn như tập san Circulation Research (chuyên về tim mạch), tỉ lệ từ chối chung là 85%, không khác mấy so với tỉ lệ từ chối các bài báo từ Hàn Quốc (88%), nhưng bài báo từ Trung Quốc có tỉ lệ từ chối lên đến 99% vì chất lượng quá kém và tiếng Anh chưa đạt. Một phân tích thú vị khác của tập san American Journal of Roentgenology cho thấy trong thời gian 2003 – 2005, tập san này chấp nhận 72% những bài báo từ Mĩ, nhưng tỉ lệ này cho các nước ngoài Mĩ là 60%. Những chứng cứ thực tế trên đây cho thấy bài báo từ các nước nghèo hay kém phát triển thường có ‘nguy cơ’ bị từ chối cao hơn là những bài báo từ các nước tiên tiến.

Tại sao bài báo bị từ chối?

Lí do 1: bài báo không thích hợp cho tập san. Đây là lí do ban biên tập từ chối rất nhanh. Tập san khoa học có đẳng cấp riêng trong chuyên ngành, và đẳng cấp này có thể phân biệt qua hệ số ảnh hưởng (impact factor, viết tắt là IF). Tập san có IF cao cũng có nghĩa là có ảnh hưởng lớn, và những tập san này chỉ công bố những công trình quan trọng. Nếu công trình nghiên cứu không phải thuộc vào loại “đột phá” thì không nên gửi cho các tập san như Science và Nature, mà nên xem xét đến các tập san chuyên ngành.

Lí do 2: Thiếu cái mới. Có thể nói rằng ban biên tập của bất cứ tập san nào cũng thích cái mới trong một bài báo. Cái mới có thể là mới về phương pháp, mới về cách tiếp cận, kết quả mới, cách diễn giải mới, v.v. Do đó, những công trình nghiên cứu không có cái mới, không có yếu tố ‘ngạc nhiên’, không làm cho người đọc hào hứng, thì khó có cơ hội công bố trên các tập san có tiếng. Những nghiên cứu mà câu trả lời hay kết quả chẳng ảnh hưởng gì đến chuyên ngành, chẳng gây tác động gì đến chính sách công hay thực hành lâm sàng cũng khó có cơ hội được công bố. Tầm quan trọng và thiếu cái mới trong công trình nghiên cứu là lí do hàng đầu (80% bài báo bị từ chối với lí do này).

Lí do 3: Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu có thể ví von như là bộ  xương của bài báo; bộ xương cứng thì cơ thể mới có thể đứng vững. Một nghiên cứu trên các nhà khoa học giải Nobel và tổng biên tập cho thấy gần 3/4 bài báo khoa học bị từ chối vì lí do phương pháp không đạt. Phương pháp ở đây bao gồm những khiếm khuyết về cách tiếp cận, thiết kế nghiên cứu (như thiếu nhóm chứng, , phương pháp đo lường chưa đạt, qui trình thực hiện thiếu tính hệ thống, phương pháp phân tích dữ liệu sai hay quá kém, cỡ mẫu không đủ. Trong giới biên tập người ta thường nói chỉ cần nhìn phần phương pháp là có thể đánh giá đẳng cấp của tác giả.

Lí do 4: cách trình bày dữ liệu. Nội dung bài báo quan trọng nhưng nếu trình bày không tốt cũng dễ bị từ chối. Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến bài báo bị từ chối đăng: trình bày dữ liệu không đầy đủ (32%), có mâu thẫn giữa các dữ liệu trình bày (25%) và không cung cấp đầy đủ chi tiết về phương pháp nghiên cứu (25%). 

Lí do 5: tiếng Anh. Một nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy khoảng 1/4 những bài báo trong ngành y học bị từ chối là do tiếng Anh không đạt. Nhiều tập san có thể thông cảm nếu văn phong tiếng Anh có sai sót có thể chỉnh sửa được, nhưng họ không thể chấp nhận bài báo có quá nhiều sai sót về tiếng Anh. Về cách viết, các khoa học không ưa cách viết sử dụng từ ngữ hoa mĩ và sáo rỗng (ít thông tin), hoặc cách viết dùng những từ “đao to búa lớn” mà không có ý nghĩa cụ thể. Ngoài ra, diễn đạt ý tưởng không khúc chiết (21%) và câu văn thừa (11%) cũng là những nguyên nhân bị từ chối.

Trên đây là những kinh nghiệm và bài học của một người từng làm nghiên cứu sinh, và những trải nghiệm của một người trong vai trò biên tập của vài tập san khoa học. Những kinh nghiệm này thật ra chẳng có gì mới, bởi vì những ai từng qua thời làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài đều ít nhiều trải qua, chỉ có khác nhau là môi trường khoa học mà thôi. Nội dung và thông điệp của bài báo rất quan trọng, nhưng tiếng Anh cũng đóng vai trò quyết định, nhất là đối với những tác giả từ các nước đang phát triển. Nhưng tiếng Anh là một rào cản lớn của rất nhiều nhà khoa học Việt Nam. Không nên kì vọng rằng một nghiên cứu sinh mới xong chương trình tiến sĩ hay hậu tiến sĩ ở nước ngoài là có ngay khả năng độc lập nghiên cứu và soạn bài báo khoa học. Những kĩ năng này đòi hỏi thời gian và tương tác với những người có kinh nghiệm tốt.

Ở nước ta, hiện nay các nghiên cứu sinh và giáo sư chịu áp lực công bố khoa học. Theo qui định mới, một nghiên cứu sinh phải công bố ít nhất 2 bài báo khoa học để được bảo vệ luận án. Tôi nghĩ qui định này hợp lí (và đã có nhiều người, trong đó có tôi, kêu gọi trước đây). Tuy nhiên, vì tiếng Anh là rào cản lớn cho đa số nghiên cứu sinh và ngay cả người hướng dẫn luận án, nên yêu cầu 2 bài báo trong thực tế là một yêu cầu không thấp. Tôi nghĩ cần phải công bằng hơn bằng cách huấn luyện kĩ năng soạn bài báo khoa học cho tất cả các nghiên cứu sinh trước khi họ bắt tay vào nghiên cứu.

Ghi thêm: bản ngắn hơn đã đăng trên VNexpress hai kì theo đường link sau đây:

https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/gs-nguyen-van-tuan-bai-bao-dau-tien-cua-toi-tung-bi-quang-vao-thung-rac-3724815.html

https://vnexpress.net/tin-tuc/khoa-hoc/trong-nuoc/cong-trinh-nghien-cuu-duoc-tap-chi-quoc-te-kiem-duyet-the-nao-3725008.html

NHỮNG SAI SÓT PHỔ BIẾN VỀ TIẾNG ANH TRONG BÀI BÁO KHOA HỌC

Nguồn: GS. Nguyễn Văn Tuấn – Những sai sót phổ biến về tiếng Anh trong bài báo khoa học

Một trong những đặc lợi của công việc editor là học. Học đủ thứ, từ ý tưởng, phương pháp, đến tiếng Anh. Học từ những người có kinh nghiệm hơn mình. Học từ những sai sót của người khác và sai sót của chính mình. Tôi mới đọc một bản thảo bài báo và liên tưởng ngay đến những sai sót rất phổ biến liên quan đến tiếng Anh trong bài báo khoa học. Cái note này sẽ cố gắng liệt kê những sai sót đó để các bạn cùng tham khảo và chú ý cho bài báo của mình.

Sai sót 1: Lẫn lộn giữa số ít và số nhiều.

Đa số chúng ta đều biết số nhiều của cell, gene là cells, genes. Nhưng có những danh từ thỉnh thoảng làm người viết lẫn lộn do những bài báo từ Mỹ và Anh có cách viết khác nhau. Các bài báo Mỹ thường xem data là số ít, nhưng đúng ra đó là số nhiều của datum. 

Nói chung, những danh từ gốc Latin với um thì số nhiều là a: medium thành media, datum thành data, bacterium thành bacteria, optimum thành optima, symposium thành symposia, quilibrium thành equilibria, v.v.

Ngoài ra, những is, us thành eses, i: hypothesi số nhiều là hypotheses, thesis thành theses, axis thành axes, locus thành loci, fungus thành fungi, v.v. Điều này có nghĩa là khi chia động từ, các bạn nên nhớ phân biệt giữa “The data were analyzed by…”, chứ không phải “The data was analyzed by….” (Tuy nhiên, tôi thấy nhiều tác giả Mỹ vẫn dùng data như là số ít).

Sai sót 2: Chia động từ sai vì ‘quên’ chủ từ.

Bất cứ ai học tiếng Anh cũng đều biết chia động từ phải phù hợp với chủ từ số nhiều hay số ít. Nhưng những câu văn phức hợp thì có khi làm cho người viết “quên” chủ từ chính là gì, và dẫn đến chia động từ sai. Chẳng hạn như câu: “The effects of bone loss on the risk of CVD disease was studied in a sample of…”  thì cách chia động từ sai, bởi vì chủ từ chính là “the effects”. Vì thế, đúng ra, câu văn trên nên viết là: “The effects of bone loss on the risk of CVD disease were studied in a sample of…”  (Ảnh hưởng của mất xương đối với nguy cơ bệnh tim mạch được nghiên cứu trong một mẫu…)

Cũng cần chú ý đến or/either/neither, chỉ chia động từ theo chủ đề gần nhất. Ví dụ như: “Either the doctor or the patients was aware of the presence of AND” thì không đúng, vì chủ từ gần nhất là patients. Do đó, phải viết câu trên là: “Either the doctor or the patients were aware of the presence of AND” (Hoặc bác sĩ hoặc bệnh nhân đã nhận thức được sự hiện diện của ADN).

Tuy nhiên, câu văn với none thì thường chia động từ theo số ít. Ví dụ: “None of the applicants is fully qualified.” (Không ai trong các người nộp đơn là đủ điều kiện).

Sai sót 3: Những mệnh đề “đong đưa”.

Cẩn thận với vị trí của trạng từ và động từ để không làm thay đổi ý nghĩa của câu văn. Một ví dụ tiêu biểu là “The study involved a sample of children in a local hospital with type I diabetes” (Nghiên cứu liên quan đến một mẫu trẻ em tại một bệnh viện địa phương mắc bệnh tiểu đường loại I) dễ bị hiểu lầm hơn là “The study involved a sample of children with type I diabetes in a local hospital.” (Nghiên cứu liên quan đến một mẫu trẻ em mắc bệnh tiểu đường loại I ở bệnh viện địa phương).

Một ví dụ khác cũng vui vui: “We selected a scientist with good expertise in the field called Tom Smith” (Chúng tôi đã chọn một nhà khoa học có chuyên môn tốt trong lĩnh vực được gọi là Tom Smith) dễ bị hiểu lầm là lĩnh vực nghiên cứu tên là Tom Smith, nhưng viết lại cho rõ ràng hơn thì “We selected a scientist called Tom Smith who has good expertise in the field.” (Chúng tôi đã chọn một nhà khoa học tên là Tom Smith, người có chuyên môn tốt trong lĩnh vực này).

Sai sót 4: Dùng chữ ‘bình dân’ hay văn nói.

Rất thường xuyên, tôi hay thấy những bản thảo có cách viết theo văn nói, thường không thích hợp cho văn khoa học. Chẳng hạn như:

We wondered if… (Chúng tôi tự hỏi nếu…)

We did just that… (Chúng tôi đã làm điều đó… )

We asked participants whether they had… (Chúng tôi yêu cầu những người tham gia cho dù họ đã có…)

There were a couple of samples in the study… (Có một vài mẫu trong nghiên cứu…)

Đó là những cách viết được xem là unprofessional, thiếu tính chuyên nghiệp. Nên tránh những cách viết và những chữ thiếu tính chuyên nghiệp.

Sai sót 5: Dùng sai while/since/as liên quan đến thời gian.

Những chữ như while, since, as dùng để chỉ mối liên hệ mang tính thời gian. Không dùng những chữ này để hàm ý “mặc dù” (while) hay “bởi vì” (as) hay “do vậy” (since).

Đúng: While the patient was being examined in the clinic, the patient was also undergone… (Trong khi bệnh nhân đang được khám tại phòng khám, bệnh nhân cũng đã trải qua…)

Sai: While fracture is associated with lower bone density, it can also be related to… (Mặc dù gãy xương có liên quan đến mật độ xương thấp hơn, nó cũng có thể liên quan đến…).

Đúng: Whereas/Although fracture is associated with lower bone density, it can also be related to… (Trong khi / Mặc dù gãy xương có liên quan đến mật độ xương thấp hơn, nó cũng có thể liên quan đến…).

Sai sót 6: Viết hoa không đúng cách và không cần thiết.

Nhiều bản thảo từ Việt Nam và Tàu thường có những cách viết hoa rất tùy tiện. Chẳng hạn như người ta viết “the Drug has effect” hay “the drug Beta-blocker”, v.v.  Những chữ đó không có lí do gì phải viết hoa.

Sai sót 7: Lẫn lộn giữa which và that.

Đây là một trong những lẫn lộn rất phổ biến ở những người mà tiếng Anh không phải là tiếng mẹ đẻ. Tuy nhiên, phân biệt và dùng đúng không phải là điều dễ dàng. Qui luật chung là:

(a) “that” được sử dụng trong ý nghĩa giới hạn và mang tính nhận dạng.

(b) “which” thì không có ý nghĩa giới hạn, nhưng có nghĩa bổ nghĩa.

Ví dụ về giới hạn ý nghĩa và nhận dạng:

“The drug that is used for reducing bone resorption is bisphosphonate” (Thuốc được sử dụng để làm giảm tái hấp thu xương là bisphosphonate) không dùng which trong câu trên, vì câu văn mang tính nhận dạng danh tánh của thuốc.

Nhưng “The receptor, which is present in bone cells, is slightly different from…” (Các thụ thể, mà hiện diện trong các tế bào xương, là hơi khác nhau từ…) thì đúng. Chú ý dấu phẩy trước which và mệnh đề bổ nghĩa “present in bone cells”.

Sai sót 8: “an” và “a” trước những chữ viết tắt.

Chú ý rằng “A university”, chứ không phải “An university”; do đó, bất cứ chữ viết tắt nào với U đều dùng “a”. Chẳng hạn như “a UNT component”, nhưng “an MMC-modulated reaction”. Nói chung, các chữ viết tắt với phụ âm đi đầu như SDS, SOS, LUT, NIA, v.v. đều dùng “an”, chứ không phải “a”.

Sai sót 9: Lẫn lộn giữa “et al.” và “etc.”

Chữ viết tắt “et al” có gốc Latin, với “et” có nghĩa là “và”, và “al” là từ “alii” có nghĩa là “cái khác”. Do đó, et al có thể hiểu là “và khác nữa”, như “Nguyen et al” có thể hiểu là “Nguyen và cộng sự khác”.

Chữ “etc” dĩ nhiên có nguồn gốc Latin “et cetera”, có nghĩa là “và những gì giống thế”. Nó có nghĩa giống như “vân vân” hay “…” trong cách viết tiếng Việt. Nhưng chữ này, “etc” KHÔNG bao giờ dùng trong văn phong khoa học.

Sai sót 10: Lẫn lộn giữa “e.g” và “i.e”

“i.e.” trong văn bản khoa học có gốc từ tiếng Latin “id est”, có nghĩa “có nghĩa là” (hay tiếng Anh ‘that is’).

“e.g.” cũng xuất phát từ tiếng Latin “examplia gratii”, có nghĩa là “ví dụ như” (hay tiếng Anh ‘for example’).

Chúng ta có thể viết “the predictors (i.e., risk factors) of this model were…”, nhưng không thể viết “the predictors (e.g., risk factors) of this model were…”.

Tuy nhiên, chúng ta có thể viết “Lifestyle factors (e.g., smoking, alcohol intakes) were considered…”, nhưng không thể viết “Lifestyle factors (i.e., smoking, alcohol intakes) were considered…”

Sai sót 11: Không có khoảng trống giữa số và đơn vị đo lường. 

Bài báo khoa học yêu cầu phải có khoảng trống (space) giữa số và đơn vị đo lường. Vài ví dụ cụ thể như sau:

(a) Phải viết là 0.61 cm, chứ không phải là 0.61g/cm.

(b) Ngay cả đơn vị đo lường nhiệt độ cũng phải có khoảng trống: cách viết đúng là 37 oC, chứ không phải 37oC.

(c) Đơn vị li tâm (centrifuge) cần phải có “x” như chúng ta biết, nhưng phải có khoảng trống. Cách viết đúng là 10,000 x g, chứ không phải 10,000xg.

(d) Ngoại lệ: số phầm trăm thì không cần khoảng trống: chúng ta có thể viết 35% thay vì 35 %.

Sai sót 12: Khoảng trống cho sai số chuẩn và dấu ±

Phải có khoảng trống trước và sau dấu cộng trừ ±. Nên viết 45 ± 11, chứ không nên viết 45±11. Tương tự, số cỡ mẫu cũng phải có khoảng trống trước và sau dấu bằng: viết n = 5, chứ không nên n=5.

Sai sót 13: Dấu nối (“-” hay hyphen) giữa số và đơn vị, nếu dùng nó như là một mệnh đề tính từ.

Tất cả các tính từ ghép với con số cần phải có dấu gạch nối. Nên viết “40-mm rod”, chứ không phải “40 mm rod”. Ở đây, 40-mm có ý nghĩa tính từ. Ngoài ra, chúng ta viết “Two-sided P value” hay “Four-step procedure” chứ không phải “Two sided P value” hay “Four step procedure”.  Dĩ nhiên, chúng ta có thể viết “A procedure with 4 steps” mà không có vấn đề gì về văn phạm.

Dấu gạch nối cũng có thể dùng cho những tiền tố ngữ như “Multi-component model”, “Bi-directional tool”. Trong thực tế, tôi thấy nhiều người (nhất là bên Mỹ) bỏ dấu gạch nối trong các chữ trên.

Sai sót 14: Dấu nối cho các chữ ghép.

Các chữ ghép (compound word) ở đây bao gồm những chữ ghép giữa danh từ và động từ (thường là thì quá khứ). Chẳng hạn như muốn nói phản ứng do thuốc gây ra, chúng ta có thể viết “Reaction attributable to drug” (hơi dài), nhưng một cách viết gọn hơn là “Drug-induced reaction” hay “Drug-attributed reaction”, và chú ý có dấu nối. Tương tự, chúng ta hay thấy các chữ như “time-dependent variable” hay “time-variant model”, v.v.

Dĩ nhiên, khi bắt đầu câu văn, không ai viết “22 participants”, mà phải là “Twenty-two participants”.

Sai sót 15: Dùng dấu phẩy trong các mệnh đề ngoặc kép.

Những mệnh đề ngoặc kép (parenthical phrases) là những mệnh đề gồm nhiều chữ, chúng không cần dấu phẩy. Trước đây thì cần, nhưng ngày nay, các tập san không thích dùng dấu phẩy nữa.

Ví dụ: chúng ta có thể viết “the protein kinase inhibitor genistein was related to”, chứ không cần phải viết theo kiểu cổ điển “the protein kinase inhibitor, genistein, was related to.” Cả hai cách viết đều đúng, chỉ có cách đầu được các tập san khoa học ưa chuộng hơn cách viết sau.

Nhưng có những mệnh đề theo ý nghĩa “and” và “but” thì cần dấu phẩy. Ví dụ như chúng ta nên viết: 

“The placebo group, contrary to our hypothesis, exhibited no effect”,

“The participants were largely drawn from B and, as a result, biased toward…”  

chứ không nên viết:

“The placebo group contrary to our hypothesis exhibited no effect”

“The participants were largely drawn from B and as a result biased toward…”  

Sai sót 16: Quá nhiều số lẻ thập phân.

Một trong những sai sót hay thấy nhất trong các bản thảo bài báo khoa học là tác giả trình bày con số với nhiều số lẻ không cần thiết. Chẳng hạn như chúng ta biết rằng máy DXA đo mật độ xương chính xác 2 số lẻ (như 0.71, 0.90 g/cm^2), do đó báo cáo 0.711 hay 0.899 là không cần thiết. Đó có thể xem là một sai sót. Tương tự, huyết áp 150 mmHg có ý nghĩa, chứ 150.65 mmHg thì chẳng có ý nghĩa gì, mà chỉ là một ‘nô lệ’ con số!

Tương tự, con số phần trăm chỉ cần chính xác 1, hay cao lắm là 2 số lẻ. Nên viết 90.4%, chứ không nên viết 90.415%. 

Sai sót 17: lẫn lộn những chữ có cùng (hay giống) cách phát âm.

Chú ý những chữ có phát âm giống giống nhau như:

effect / affect

here / hear

its / it’s

whose / who’s

Trên đây chỉ là những sai sót phổ biến trong bài báo khoa học. Trong thực tế thì còn nhiều sai sót khác nữa. Những sai sót này thường hay thấy trong những bản thảo của các nhà khoa học ngoài các nước nói tiếng Anh. Nhưng ngay cả những nhà khoa học trong các nước nói tiếng Anh vẫn vấp phải những sai sót trên. Do đó, vấn đề không hẳn là văn phạm tiếng Anh, mà là làm quen với văn phong khoa học. Bất cứ ai, kể cả tôi, cũng đều có sai sót, thậm chí sai sót ngay trong những bài báo đã công bố. Do đó, biết được những sai sót này là để giúp cho bản thảo kế tiếp sẽ hoàn chỉnh hơn. Chúc các bạn may mắn!

Tham khảo và đọc thêm:

  1. Robert B. Taylor. The Clinician’s Guide to Medical Writing. Srpinger 2005. Đây là cuốn quan trọng nhất và là ‘gối đầu giường’ cho bất cứ ai làm trong y học.
  2. Martin Volk and Sven Lautenbach. Writing scientific papers – 10 biggest mistakes from a reviewer’s perspective. Chia sẻ kinh nghiệm sai sót mà chính tác giả trải qua.
    http://www.iemss.org/sites/iemss2012/images/WS_J2_Volk_Lautenbach_pdf.pdf
  3. Sydney University: Scientific Writing. Một hướng dẫn rất cụ thể và chi tiết.
    http://sydney.edu.au/science/biology/learning/generic_skills/scientific-writing.pdf
  4. Myron L. Toews. The “Grammar Hammer”: Common Mistakes in Scientific Writing. Đây là một bài nói chuyện mà tác giả trình bày những hướng dẫn (và sai sót) trong cách trình bày những qui ước về tiếng Anh trong khoa học.
    https://medschool.creighton.edu/fileadmin/user/medicine/Departments/Biomedical_Sciences/PowerPoint/Grammar_Hammer-_CU_BioMedSci-_Oct_2012.pptx
  5. Jorge Faber. Writing scientific manuscripts: most common mistakes. Dental Press J. Orthod. vol.22 no.5 Maringá Sept./ Oct. 2017. Một chia sẻ kinh nghiệm về những sai sót phổ biến ở người không nói tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ.
    http://www.scielo.br/scielo.php?script=sci_arttext&pid=S2176-94512017000500113
  6. Mariel A. Marlow. Writing scientific articles like a native English speaker: top ten tips for Portuguese speakers. Clinics vol.69 no.3 São Paulo Mar. 2014. Một chia sẻ khác về cách viết bài báo khoa học.
    http://www.scielo.br/scielo.php?script=sci_arttext&pid=S1807-59322014000300153
  7. Và sau cùng là sách của tôi “Từ nghiên cứu đến công bố” (Nhà xuất bản Tổng Hợp TPHCM) có hướng dẫn về cách soạn bài báo khoa học, cách trình bày powerpoint, cách viết đề cương nghiên cứu. Sách tổng hợp và chia sẻ những kinh nghiệm trong việc xuất bản bài báo khoa học.
    https://nxbhcm.com.vn/34/tu-nghien-cuu-den-cong-bo-ky-nang-mem-cho-nha-khoa-hoc-1187