Chuyên mục lưu trữ: Tổng hợp

SỬ DỤNG TỐI ƯU ENDNOTE ĐỂ TRÍCH DẪN TÀI LIỆU ĐA NGÔN NGỮ

BS. Hoàng Văn Trung

Giới thiệu

Endnote là một phần mềm trích dẫn phổ biến. Có thể download ở https://endnote.com/.

Ở mỗi cơ quan, trường đại học hoặc tạp chí sẽ có một quy định trích dẫn tài liệu khác nhau. Nếu muốn viết một bài báo để gửi đến tạp chí nào đó, cần phải định dạng trích dẫn theo phong cách của tạp chí đó. Mỗi tạp chí thường sẽ có các định dạng riêng, có thể tìm kiếm trên trang chủ endnote để download file style định dạng của tạp chí đó. Ví dụ tạp chí Pediatric Radiology có đường link down style như sau https://endnote.com/style_download/pediatric-radiology/.

Tuy nhiên lưu ý rằng không phải tạp chí nào cũng cập nhật định dạng thường xuyên. Cần tham khảo các số xuất bản gần đây của tạp chí đó để sửa file style phù hợp.

Các tài liệu tiếng việt chưa có quy định chuẩn mực chung về định dạng trích dẫn tài liệu. Yêu cầu hiện tại là cần trích dẫn rõ ràng các thông số như họ tên tác giả, năm xuất bản, tên sách hoặc bài báo, tên tạp chí hoặc nhà xuất bản, số, tập và trang.

Một định dạng trích dẫn chung cho tài liệu tiếng việt như sau:

Nguyễn Văn Hùng, Trần Văn Nam (2019), Tên bài báo, Tên tạp chí, Tập (Số), Trang.
Nguyễn Văn Hùng, Trần Văn Nam (2019), Tên Sách, Nhà xuất Bản, Trang.

Có thể download style dùng chung cho luận văn, luận án, sách của các cơ quan ở Việt Nam ở link sau: Vietnam. Down về và copy vào mục style trong thư mục cài đặt endnote

Một số lưu ý khi dùng style ở trên:
– Các tài liệu có file ciation online thì nên down về, import và chỉnh sửa lại.

– Lưu ý kiểu style ở trong endnote và word phải giống nhau, đó là file style “Vietnam”.

– Cách nhập tên tác giả:

  • Các tác giả nước ngoài nhập Họ trước và Tên sau: “Gupta, Samir Fere” cần sửa lại thành “Gupta, SF” hoặc “Gupta, S.F.” hoặc “Gupta S. F.” để tên ngắn lại và đồng bộ. Tốt nhất nhập là “Gupta, SF”.
  • Đối với tiếng Việt, tác giả tên Nguyễn Văn Hùng và Trần Văn Nam thì nhập là “Hùng, Nguyễn Văn Hùng”, enter xuống dòng rồi nhập tiếp “Nam, Trần Văn Nam”. Nhập như vậy thì endnote sẽ tự sắp xếp theo tên chứ không phải là họ tác giả Việt nam.
  • Tác giả tên nước ngoài nhập họ trước, endnote sẽ tự sắp xếp.
  • Sau tác giả thứ 6 thì nhập “và, cs” đối với tiếng việt, “et, al.” đối với tiếng Anh.

– Nhập volume và Issue: Đa phần các tạp chí đều có cả Tập và Số. Tuy nhiên có vài bài báo chỉ có một trong hai. Cần xem cụ thể trên web hoặc bản in hoặc pdf để xác định chính xác Tập và Số. Nhiều lúc các file citation có thể nhập nhầm Tập và Số. Một vài tạp chí Tập hoặc Số có thể là năm xuất bản.

– Nhập tên tạp chí: Ở nước ngoài tên tạp chí thường được viết tắt theo quy định chung. Tuy nhiên ở Việt Nam một số nơi bắt buộc phải nhập đầy đủ tên của tạp chí. Nếu down file citation về thì cần sửa lại tên tạp chí cho đầy đủ.

– Nhập trang: Ví dụ nếu sử dụng file style “Vietnam” ở trên thì với tài liệu tiếng việt thì nhập là “tr. 1-10”, với tài liệu tiếng anh thì nhập là “pp. 1-10”.

– Nhập ngôn ngữ: file style “Vietnam” ở trên đã định dạng ưu tiên sắp xếp đầu tiên theo ngôn ngữ, sau đó tác giả, sau đó là năm. Ngôn ngữ được xếp theo thứ tự theo từ “Z-A”. Nếu muốn tiếng Việt xếp đầu tiên thì nhập là “V” hoặc “Vi”, hoặc “Vie” (chỉ quan trọng chữ đầu tiên). Tiếng Anh thì nhập là “E” hoặc “Eng”. Các ngôn ngữ khác sắp xếp cuối cùng theo mức độ phổ biến. Ví dụ tiếng pháp và tiếng nhật chẳng hạn. Nhập tiếng pháp là “B”, nhập tiếng Ý là “A” theo ngược bảng chữ cái là được.

– Sau khi hoàn thành sẽ có định dạng như sau:

– Lúc này chỉ cần chèn Tiếng Việt, Anh, Pháp, Ý… vào xóa tên phía đầu tiên của tài liệu tiếng việt là đã hoàn thành.

Các hướng dẫn chi tiết có thể tìm trên web, nếu cần hỗ trợ hãy liên hệ qua facebook. Down Style tại đây: Vietnam

Tham khảo thêm bài: HƯỚNG DẪN TRÍCH DẪN TÀI LIỆU THAM KHẢO

CÁCH VIẾT BÁO CÁO KHOA HỌC CHO CÁC TẬP SAN KHOA HỌC QUỐC TẾ

1. Tổng quan

Mới đây trên Tạp chí Hoạt động Khoa học, tác giả Phạm Duy Hiển nêu vấn đề về sự có mặt rất khiêm tốn của các nghiên cứu khoa học Việt Nam trên các tập san khoa học quốc tế. Đây là một ưu tư rất chính đáng. Trong ngành Y sinh học, trong vòng 40 năm qua, số lượng bài báo từ các nhà khoa học ở Việt Nam chỉ trên dưới con số 300. Con số này cực kì khiêm tốn nếu so với 5.000 từ Thái Lan hay trên 20.000 từ Singapore. Trong thực tế, ở nước ta có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị và hấp dẫn, nhưng ít khi nào có mặt trên trường quốc tế. Vấn đề đặt ra là tại sao có tình trạng này và làm sao chúng ta có thể cải thiện tình thế.

Qua kinh nghiệm cá nhân và tiếp xúc với đồng nghiệp trong nước, người viết bài này tin rằng một phần của vấn đề là các nhà khoa học nước ta thiếu kĩ năng phân tích dữ kiện và thiếu kĩ năng thông tin (communication skill). Về phân tích số liệu, sẽ bàn trong một dịp khác, ở đây tác giả bài viết chỉ bàn đến vấn đề thông tin, mà cụ thể là soạn một bài báo khoa học.

Đại đa số các tập san khoa học quốc tế sử dụng tiếng Anh để truyền đạt thông tin. Một phần không nhỏ các nhà khoa học nước ta chưa quen với tiếng Anh, và đó là một trở ngại lớn. Nhưng ngay cả trong số các nhà khoa học thạo tiếng Anh, thì họ lại thiếu kĩ năng viết báo khoa học. Bài viết này muốn góp một phần nhỏ trong nỗ lực cải thiện tình thế đó, bằng cách chia sẻ một số kinh nghiệm viết báo cáo khoa học với các đồng nghiệp và nhà nghiên cứu trẻ. Bài viết này là một tóm lược của một tài liệu bằng tiếng Anh dài hơn dùng để giảng dạy cho các nghiên cứu sinh ở Mỹ và Úc.

2. Tại sao phải công bố báo cáo khoa học

2.1. Giới thiệu

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, các bài báo khoa học đóng một vai trò rất quan trọng. Nó không chỉ là một bản báo cáo về một công trình nghiên cứu, mà còn là một đóng góp cho kho tàng tri thức của thế giới. Khoa học tiến bộ cũng nhờ một phần lớn vào thông tin từ những bài báo khoa học, bởi vì qua chúng mà các nhà khoa học có dịp trao đổi, chia sẻ và học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau.

Một công trình nghiên cứu thường được tài trợ từ các cơ quan nhà nước, và số tiền này là do dân chúng đóng góp. Khi tiến hành nghiên cứu, nhà nghiên cứu có khi phải nhờ đến sự tham gia của tình nguyện viên hay của bệnh nhân. Trong trường hợp đó, tình nguyện viên và bệnh nhân phải bỏ thì giờ, tạm bỏ qua công ăn việc làm để tự nguyện cung cấp thông tin và có khi hi sinh một phần da máu cho nhà nghiên cứu. Nếu một công trình nghiên cứu đã hoàn tất mà kết quả không được công bố, thì công trình nghiên cứu đó có thể xem là có vấn đề về y đức và đạo đức khoa học, và nhà nghiên cứu có thể xem như chưa hoàn thành nghĩa vụ của mình với sự đóng góp của quần chúng. Do đó, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một nghĩa vụ của nhà nghiên cứu, là một cách gián tiếp cám ơn sự đóng góp của bệnh nhân và giúp đỡ của dân chúng qua sự quản lí của nhà nước.

Đối với cá nhân nhà khoa học, báo cáo khoa học trên các tập san khoa học quốc tế là một “currency” (đơn vị tiền tệ). Đó là những viên gạch xây dựng sự nghiệp của giới khoa bảng. Tại các đại học Tây phương, số lượng và chất lượng bài báo khoa học là tiêu chuẩn số một trong việc xét đề bạt lên chức giảng sư hay giáo sư. Vì thế công bố báo cáo khoa học, đối với giới khoa bảng Tây phương, là một việc làm ưu tiên hàng đầu của họ. Chính vì thế mà các đại học Tây phương có cái văn hóa gọi là “publish or perish” (xuất bản hay tàn lụi). Nếu trong vòng 1 hay 2 năm mà nhà khoa bảng không có một bài báo nào đăng trên các tập san khoa học quốc tế, ban giám hiệu sẽ mời vị đó trả lời câu hỏi “tại sao”. Nếu có lí do chính đáng thì còn giữ chức vụ, nếu không có lí do chính đáng thì có nguy cơ mất chức như bỡn.

Nói tóm lại, báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế (không chỉ ở trong nước) là một việc làm chính yếu, một nghĩa vụ, và một điều kiện để tồn tại của một nhà khoa học. Nhưng từ lúc tiến hành nghiên cứu, thu thập dữ kiện đến lúc có báo cáo là một quá trình gian nan. Một công việc còn gian nan hơn nữa là làm sao đảm bảo báo cáo được đăng trên một tập san khoa học có uy tín trên thế giới. Vì thế, các nhà khoa học cần phải đặc biết chú ý đến việc soạn thảo một báo cáo khoa học sao cho đạt tiêu chuẩn quốc tế. Bài viết này mách bảo một cách thân mật những “mẹo” và kĩ năng để đạt tiêu chuẩn đó.

2.2. Báo cáo khoa học là khổ hạnh  

Mỗi bài báo khoa học là một công trình khổ hạnh. “Khổ hạnh” ở đây phải được hiểu theo nghĩa vừa đau khổ, vừa hạnh phúc. Đau khổ trong quá trình chuẩn bị và viết thành một bài báo, hạnh phúc khi nhìn thấy bài báo được công bố trên một tập san có nhiều đồng nghiệp đọc và chia sẻ. Để đạt kết quả sau cùng này, tác giả phải phấn đấu làm sao để giữ sự cân bằng giữa tính trong sáng nhưng nội dung phải đầy đủ. Bài báo phải làm sao hấp dẫn người đọc và để người đọc “nhập cuộc”. Bài báo phải được viết bằng một văn phong cực kì súc tích, nhưng phải đầy đủ. Đó là những yêu cầu rất khó mà không phải tác giả nào cũng đạt được.

Nếu không tiếp cận vấn đề một cách có việc hệ thống, tất cả những nỗ lực cho một bài báo khoa học có thể trở nên vô dụng, thậm chí đem lại ảnh hưởng xấu vì một công trình nghiên cứu sẽ không có cơ hội xuất hiện trên các tập san chuyên môn. Mặc dù ở các nước phương Tây, người ta đã có nhiều bài viết chỉ dẫn – thậm chí cả sách dạy – cách viết một bài báo khoa học, nhưng ở nước ta, hình như vẫn chưa có một tài liệu chỉ dẫn như thế. Bài viết này, vì thế, được soạn ra nhằm mục đích duy nhất là cung cấp cho bạn đọc những chỉ dẫn đơn giản và thực tế để sao cho bạn đọc có thể tự mình viết một bài báo khoa học đạt yêu cầu của các tập san khoa học quốc tế.

2.3. Vạn sự khởi đầu nan

Viết một bài báo tốt là một việc làm không đơn giản chút nào, nếu không muốn nói là phức tạp.  Nó đòi hỏi người viết phải sáng tạo và suy tưởng trong lặng lẽ. Con đường dẫn đến một sản phẩm hoàn hảo không bao giờ là một con đường thẳng, mà là một con đường với nhiều ngõ ngách, nhiều đường cùng, và nhiều chông gai. Nói một cách ngắn gọn, viết cần phải có thời gian. Thành ra, cách tốt nhất là phải khởi công viết càng sớm càng tốt, đừng bao giờ để cho đến giai đoạn cuối của nghiên cứu mới viết.

Tác giả có thể viết ngay những phần cần viết ra của bài báo trong khi công trình nghiên cứu vẫn còn tiến hành. Phác họa ra phần dẫn nhập (introduction) ngay từ khi công trình nghiên cứu đang trong giai đoạn thai nghén. Viết phần phương pháp (methods) ngay trong khi công trình nghiên cứu còn dở dang. Làm đến đâu, viết ngay đến đó. Sau cùng là một phát họa những biểu đồ, bản thống kê cần phải có trong bài báo.

Viết ra những ý tưởng và phương pháp sớm giúp cho nhà nghiên cứu rất nhiều trong những lần sửa chữa sau này. Chẳng hạn như làm sáng tỏ động cơ và lí do nghiên cứu trong phần dẫn nhập giúp cho nhà nghiên cứu nhận ra bối cảnh mà công trình nghiên cứu có thể đóng vai trò. Viết ra những phương pháp nghiên cứu giúp cho nhà nghiên cứu khỏi phải tốn công xây dựng lại những bước đi, những thủ tục mà công trình nghiên cứu đã hoàn tất. Việc phát thảo ra những biểu đồ và bản số liệu giúp cho nhà nghiên cứu tập trung vào nỗ lực phân tích dữ kiện. Và quan trọng hơn hết, khi ngồi xuống viết, tự việc làm đó, tạo cơ hội hay nói đúng hơn là bắt buộc cho nhà nghiên cứu phải suy nghĩ nghiêm túc về việc làm của mình.

Một điều quan trọng khác là tác giả cần phải bỏ ra một thời gian tịnh tâm suy nghĩ về cái thông điệp của công trình nghiên cứu cho cộng đồng khoa học. Trong phần này, tác giả nên chịu khó viết ra những điểm chính nhằm trả lời những câu hỏi sau đây: tại sao mình làm những gì mình đã làm; thực tế mình đã làm gì; mình phát hiện điều gì mới lạ; và những điều này có ý nghĩa gì?

3. Cách viết báo khoa học

3.1. Tập trung vào những thông tin chính

Mặc dù thành phần độc giả của các tập san khoa học có thể rất đa dạng, một đặc tính mà giới chuyên môn đều có nét chung là bận rộn. Giới khoa học gia, bác sĩ, kĩ sư, nhà quản lí, lãnh đạo… có lẽ chỉ nhìn qua bài báo khoa học một cách nhanh chóng, chứ ít khi nào có thì giờ nghiền ngẫm từng chi tiết trong bài báo. Tuy rằng phần lớn tác giả nghiên cứu biết điều này, nhưng họ có thể không nghĩ đến khi đặt bút xuống soạn bài báo khoa học. Do đó, tác giả nên tự đặt mình vào vai trò của người đọc và suy nghĩ như người đọc bằng cách chú ý đến những gì mà người đọc muốn tìm hiểu: tựa đề bài báo, bản tóm tắt (abstract), những bản số liệu, và biểu đồ.

Tựa đề và tóm tắt

Tựa đề và bản tóm tắt là hai phản chiếu đầu tiên đập vào mắt của người đọc. Đây cũng là phần mà đại đa số người đọc đọc trước khi quyết định có nên đọc tiếp hay không. Tất nhiên, tựa đề và bản tóm tắt là hai phần được đưa vào danh mục của thư viện điện tử. Do đó, nhà nghiên cứu cần phải để tâm suy nghĩ cẩn thận khi soạn hai phần này sao cho thu hút sự chú ý của người đọc. Hai phần này cần phải được viết trước hết, trước khi cả đặt bút viết các phần khác của bài báo.

Bảng số liệu và biểu đồ

Yếu tố thị giác rất quan trọng. Nếu người đọc quyết định đọc bài báo (sau khi đã xem qua tựa đề và bản tóm tắt), họ sẽ tiếp tục xem đến các bảng thống kê và biểu đồ. Các bảng thống kê số liệu thường được dùng để trình bày những số liệu mang tính trang trọng, tính chính xác cao, tính chính thức. Các bảng thống kê có thể dùng để tổng hợp và so sánh số liệu của các công trình nghiên cứu trong quá khứ, để giải thích mối liên hệ giữa các nhân tố trong công trình nghiên cứu, hay trình bày những câu hỏi đã được sử dụng trong công trình nghiên cứu.

Người xưa từng nói “Một biểu đồ có giá trị bằng một vạn chữ viết”. Mục đích của biểu đồ là cung cấp một ấn tượng về phát hiện chính của công trình nghiên cứu. Biểu đồ có khi được dùng làm tài liệu giảng dạy. Vì thế biểu đồ là một phương tiện hữu hiệu nhất để nhấn mạnh thông điệp của bài báo. Biểu đồ thường được sử dụng để thể hiện xu hướng và kết quả cho từng nhóm, nhưng cũng có thể dùng để trình bày dữ kiện một cách gọn gàng. Các biểu đồ dễ hiểu, nội dung phong phú là những phương tiện vô giá. Do đó, nhà nghiên cứu cần phải suy nghĩ một cách sáng tạo cách thể hiện số liệu quan trọng bằng biểu đồ.

3.2. Phác thảo phương pháp có hệ thống

Tiếp cận và phác họa cấu trúc của một bài báo trước khi đặt bút viết tạo điều kiện dễ dàng cho tác giả sau này. Bước đầu tiên đòi hỏi tác giả phải biết tập san mà mình muốn gửi bài báo, bởi vì mỗi tập san có những yêu cầu khác nhau về hình thức cũng như nội dung. Một khi đã xác định được tập san đối tượng, tác giả cần phải xem qua phong cách và hình thức bài báo mà tập san đó qui định. Đặc biệt là phải xem qua các bài báo đã được công bố trên tập san đó, như số lượng chữ là bao nhiêu, biểu đồ phải trình bảy như thế nào, bảng số liệu phải viết ra sao, trình bày phần tài liệu tham khảo theo cách gì. Phần lớn các tập san Y khoa và Sinh học đều tuân thủ theo các qui định được công bố trong tài liệu Uniform Requirements for Manuscripts Submitted to Biomedical Journals.

Có nhiều “chiến lược” để thu hút người đọc theo dõi bài báo của mình. Cách tốt nhất và hiệu quả nhất có lẽ là ngắn gọn. Không nên nhầm lẫn giữa sự phức tạp với tính tinh vi. Câu văn cần phải ngắn gọn, đơn giản, nhưng chính xác và trực tiếp đi thẳng vào vấn đề. Cũng cần phải nhận thức rằng có được một bài báo khúc chiết như thế không phải là điều dễ dàng chút nào, nó đòi hỏi nhiều thời gian và suy nghĩ.

Một bài báo khoa học hay cũng cần phải được cấu trúc gọn gàng. Mỗi đoạn văn cần phải có một mục đích hay phải nói lên được một ý tưởng.  Mỗi câu văn phải phục vụ cho mục đích đó. Các đoạn văn phải liên kết với nhau thành một chuỗi ý tưởng phản ánh lí luận cho một thông điệp nào đó. Cách tổ chức hiển nhiên cho một bài báo khoa học đạt là cấu trúc mà các tập san y khoa và sinh học thường sử dụng: dẫn nhập, phương pháp, kết quả, và thảo luận. Cấu trúc này còn được gọi bằng tiếng Anh là IMRAD (Introduction Methods Results And Discussion).

Dẫn nhập

“Nhiệm vụ” thiết yếu nhất trong phần dẫn nhập là phải làm sao làm cho người đọc tiếp nhận bài báo và quan tâm đến kết quả của công trình nghiên cứu. Hơn nữa, phần dẫn nhập còn giúp cho người bình duyệt bài báo hay tổng biên tập tập san thẩm định tầm quan trọng của bài báo. Trong phần dẫn nhập, tác giả phải nói rõ tại sao công trình nghiên cứu ra đời và tại sao người đọc phải quan tâm đến công trình đó. Sơ đồ 1 sau đây phác họa cái khung cho phần dẫn nhập được viết với 3 đoạn văn.

Đoạn văn thứ nhất mô tả một vấn đề chung hay yếu tố chung làm động cơ cho công trình nghiên cứu. Đặc biệt là câu văn đầu tiên phải “mạnh mẽ” và làm sao thu hút chú ý của người đọc. Đoạn văn thứ hai tập trung vào vấn đề cụ thể mà công trình nghiên cứu phải giải quyết. Trong đoạn văn này, tác giả có thể nêu ra những vấn đề mà người đọc có thể chưa từng biết qua. Đoạn văn thứ hai cũng cần nêu lên cái khoảng trống tri thức mà cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời. Đoạn văn thứ ba mô tả các mục tiêu của công trình nghiên cứu. Phần dẫn nhập phải được làm sao mà đọc đến đoạn thứ ba, người đọc cảm thấy háo hức và thiết tha đọc các phần kế tiếp của bài báo.

Sơ đồ 1: Khung bài cho phần dẫn nhập (3 đoạn văn)
Đoạn vănCâu hỏiVí dụ
Ví dụ 1Ví dụ 2Ví dụ 3
1Vấn đề chung là gì, tình hình hiện nay ra sao?Loãng xương là một bệnh nghiêm trọng trong người có tuổi vì nó là nguyên nhân dẫn đến gãy xương.Có nhiều bằng chứng cho thấy carotid endarterectomy có thể làm giảm nguy cơ bệnh tim.Tiểu đường thận (diabetic nephropathy) là nguyên nhân số một của bệnh thận vào giai đoạn cuối.
2Vấn đề cụ thể là gì, và trong kho tàng tri thức còn khoảng trống nào?Mật độ xương (BMD) là một yếu tố quan trọng trong việc chẩn đoán loãng xương trong người Âu Mĩ.  Tuy nhiên trong người Việt sự chính xác của BMD trong việc tiên đoán gãy xương vẫn chưa được nghiên cứu.Thông tin về carotid endarterectomy vẫn còn rất hạn chế.  Do đó, cho đến nay quyết định liên quan đến phẫu thuật này vẫn còn chưa được rõ ràng.Mặc dù microalbumin được đề nghị dùng để truy tìm bệnh tiểu đường thận, nhưng phần lớn bác sĩ vẫn không tuân theo qui định chung này.
3Thế thì công trình nghiên cứu này sẽ đóng góp gì?Nghiên cứu khả năng ứng dụng BMD trong người Việt hay một dân số khác sẽ giúp cho việc phát triển một tiêu chuẩn chẩn đoán mới.Để giúp cho bác sĩ thẩm định lợi ích của carotid endarterectomy, chúng tôi tính toán số ca phẫu thuật cần thiết để ngăn ngừa một ca bệnh tim trong những điều kiện khác nhau.Nhằm mục đích phát triển một phương pháp mới và đơn giản hơn cho việc chẩn đoán tiểu đường thận, chúng tôi ứng dụng một mô hình quyết định (decision making model) và phân tích hệ quả của thuật chữa trị ACE

 

Phương pháp

Phần phương pháp phải cung cấp một cách chi tiết những gì tác giả đã làm và làm như thế nào trong công trình nghiên cứu. Ở đây, tác giả phải cẩn thận cân bằng giữa hai nhu cầu: súc tích (vì không thể mô tả tất cả các kĩ thuật với những chi tiết cụ thể) và đầy đủ (tác giả phải trình bày đầy đủ thông tin sao cho người đọc biết được những gì đã làm). Đạt được sự cân đối giữa súc tích và đầy đủ là một thách thức của người viết, và có thể của cả biên tập và nhà xuất bản. Phần phương pháp cần phải cho người đọc những thông tin liên quan đến tính khái quát hóa (chẳng hạn như đối tượng nghiên cứu là ai, có tiêu chuẩn nào tuyển chọn đối tượng hay không, hay cách thức chọn mẫu như thế nào…).

Có thể bài báo đề ra một phương pháp mới. Trong trường hợp đó, tác giả cần phải chú ý những tên gọi (và ý tưởng) xuất hiện nhiều lần trong bài báo. Tác giả nên suy nghĩ kĩ về những tên gọi này: phải dùng chữ ngắn gọn mà dễ hiểu. Nên gọi phương pháp điều trị là gì? Phải sử dụng từ gì để mô tả chỉ tiêu của nghiên cứu? Kinh nghiệm người viết bài này cho thấy trước khi viết cần phải liệt kê ra danh sách những từ hay sử dụng trong bài báo. Không có gì lẫn lộn và khó chịu người đọc hơn là dùng nhiều từ khác nhau để gọi một hiện tượng!

Một cấu trúc cứng nhắc sẽ làm cho phần phương pháp trở thành máy móc. Nhưng đó lại là cấu trúc mà các tập san y khoa đòi hỏi cho các nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized clinical trial). Trong cấu trúc này, tác giả phải viết dưới các tiêu đề như khái quát, nơi làm nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển chọn đối tượng, chỉ tiêu chính của nghiên cứu, chỉ tiêu phụ, cách đo lường, phương pháp phân tích dữ kiện…

Trong các nghiên cứu khác, tác giả có thể tự mình sáng tạo ra những tiêu đề thích hợp với công trình nghiên cứu. Ngay cả nếu tác giả sau này phải xóa bỏ các tiêu đề này thì sự bố cục của chúng giúp ích cho tác giả rất nhiều. Có thể dùng một biểu đồ như là một cách mô tả qui trình nghiên cứu (chẳng hạn như thiết kế, tuyển chọn bệnh nhân, và phân tích dữ kiện). Nếu cần, tác giả có thể thêm phần phụ lục để cung cấp chi tiết về phương pháp phân tích, mã (codes) dùng trong máy tính, hay phương pháp thu thập dữ kiện cùng phương pháp đo lường (đây là những phương pháp có thể giúp cho người duyệt bài hay người đọc có thể lặp lại thử nghiệm).

Kết quả

Phần kết quả phải được viết một cách ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề nêu ra trong phần dẫn nhập. Tác giả phải trả lời cho được câu hỏi “Đã phát hiện gì?”. Cần phải phân biệt rõ đâu là kết quả chính và đâu là kết quả phụ. Phần kết quả phải có biểu đồ và bảng số liệu, những dữ kiện này phải được diễn giải một cách ngắn gọn trong văn bản. Những số liệu này phải trình bày sao cho lần lượt trả lời các mục đích mà tác giả đã nêu ra trong phần dẫn nhập.

Tất cả các bảng thống kê, biểu đồ và hình ảnh phải được chú thích rõ ràng. Tất cả những kí hiệu phải được đánh vần hay chú giải một cách cụ thể để người đọc có thể hiểu được ý nghĩa của những dữ kiện này. Trong phần kết quả, tác giả chỉ trình bày sự thật và chỉ sự thật (facts), kể cả những sự thật mà nhà nghiên cứu không tiên đoán trước được hay những kết quả “tiêu cực” (ngược lại với điều mình mong đợi). Trong phần kết quả, tác giả không nên bình luận hay diễn dịch những kết quả này cao hay thấp, xấu hay tốt, v.v.. vì những nhận xét này sẽ  được đề cập đến trong phần thảo luận (Discussion).

Thảo luận

Đối với phần lớn nhà nghiên cứu, đây là phần khó viết nhất vì nó không có một cấu trúc cố định nào cả. Nói một cách ngắn gọn, trong phần này, tác giả phải trả lời câu hỏi “Những phát hiện này có nghĩa gì?”. Tuy không phải theo cấu trúc cố định nào, tác giả có kinh nghiệm thường viết thảo luận theo một cấu trúc như sau: (a) giải thích những dữ kiện trong phần kết quả; (b) so sánh những kết quả này với các nghiên cứu trước; (c) bàn về ý nghĩa của những kết quả; (d) chỉ ra những ưu điểm và khuyết điểm của cuộc nghiên cứu; (e) sau cùng là một kết luận sao cho người đọc có thể lĩnh hội được một cách dễ dàng.

Trong phần thảo luận, tác giả phải giải thích hay đề nghị một mô hình giải thích, tại sao những dữ kiện thu thập được có xu hướng đã quan sát trong nghiên cứu. Nếu không giải thích được thì nhà nghiên cứu phải thành thật nói y như thế: không biết. Tác giả còn phải so sánh với kết quả của những nghiên cứu trước và giải thích tại sao chúng có những kết quả khác nhau, hay tại sao chúng lại giống nhau, và ý nghĩa của chúng là gì. Ngoài ra, nhà nghiên cứu còn phải có trách nhiệm tự mình vạch ra những thiếu sót, những trắc trở, khó khăn trong nghiên cứu, cùng những ưu điểm của cuộc nghiên cứu, cũng như đưa ra các giải pháp khắc phục hay những đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai. Sơ đồ 2 sau đây có thể dùng để làm dàn bài để viết phần thảo luận.

Sơ đồ 2:  Khung bài cho phần thảo luận
Câu hỏi cần phải trả lờiNội dung
Phát hiện chính là gì?Phát biểu những phát hiện chính; đặt những phát hiện này vào bối cảnh của các nghiên cứu trước đây.
Phát hiện đó có khả năng sai lầm không?Xem xét những yếu tố sau đây: thiếu khách quan trong đo lường và thu thập số liệu? Số lượng đối tượng ít? Cách chọn mẫu có vấn đề? Các yếu tố khác chưa xem xét đến? Phân tích chưa đầy đủ?  Chưa điều chỉnh cho các yếu tố phụ?…
Ý nghĩa của phát hiện là gì?Đặt kết quả của nghiên cứu vào bối cảnh lớn hơn, và so sánh với các nghiên cứu trước đây. Suy luận về cơ chế (nhưng không nên quá lời hay quá xa xỉ trong khi suy luận, mà phải nằm trong khuôn khổ của dữ kiện thật).
Kết luận có phù hợp với dữ kiện hay không?Kết luận phải rõ ràng, nhưng không nên đi ra ngoài khuôn khổ của dữ kiện. Chẳng hạn như nếu kết quả cho thấy hút thuốc lá làm tăng ung thư phổi, tác giả không nên kết luận rằng ngưng hút thuốc lá sẽ giảm ung thư phổi.

 

3.3. Hỗ trợ từ đồng nghiệp

Những bài báo khoa học có giá trị thường là những bài báo đã được xem xét và duyệt đi duyệt lại nhiều lần, kể cả những lần phản hồi (response) hay phản biện lại những phê bình của những người bình duyệt. Điều này đòi hỏi bài báo, trước khi gửi đi cho một tập san, phải được các đồng nghiệp nội bộ đọc và phê bình. Tác giả không nên ngần ngại tiếp nhận những phê bình gay gắt từ đồng nghiệp. Để làm việc này, tác giả cần phải có một danh sách những đồng nghiệp có thể duyệt bài. Những đồng nghiệp này không hẳn phải là những tên tuổi lớn như giáo sư, mà có thể là nghiên cứu sinh. Thật ra, các giáo sư ít khi nào có thì giờ đọc kĩ, chính các nghiên cứu sinh hay đồng nghiệp cấp thấp thường là những người có khả năng và có thì giờ chăm chú, có động cơ để cho ý kiến một cách nghiêm chỉnh. Có hai nhóm đồng nghiệp có thể làm người duyệt bài nội bộ:

Những người bình duyệt chung, nhiệm vụ chính của họ là xem xét cách viết của tác giả có dễ hiểu hay không. Bất cứ ai, kể cả những người không cùng chuyên môn, cũng có thể là người duyệt bài trong nhóm này, nhưng người duyệt bài lí tưởng nhất là người có nỗ lực suy nghĩ cẩn thận.

Những người bình duyệt có cùng chuyên môn, nhiệm vụ của họ là giúp tác giả chuẩn bị để đối phó với những người bình duyệt của tập san và ban biên tập. Trong nhóm này, tác giả cần một hay hai thành viên trong cùng chuyên môn và có khả năng “soi mói” chi tiết hay nêu ra những sai sót của bài báo hay công trình nghiên cứu (chẳng hạn như nghiên cứu có đúng phương pháp không, diễn dịch có logic không, kết luận có đi ra ngoài dữ kiện không …). Trong nhóm này, người duyệt lí tưởng là một người “khó tính ” sẵn sàng nói thẳng với tác giả những gì họ nghĩ, thậm chí không mấy có cảm tình với ý tưởng của tác giả.

3.4. Cải tiến

Muốn trở thành một tác giả khoa học tốt cần phải có thời gian.  Một bài báo khoa học thường nhắm vào một vấn đề hẹp. Nhưng tác giả phải có một cái nhìn rộng và lớn hơn khi đọc bài báo của mình. Cần phải đặt bài báo và kết quả nghiên cứu vào một bối cảnh lớn hơn để thấy thành quả ra sao hay những gì cần phải làm tiếp trong tương lai.
Sơ đồ 3 sau đây phác thảo vài cách tiếp cận để tác giả có thể tự mình cải tiến. Nhiều tác giả thiếu kiên nhẫn vì họ chỉ muốn gửi bài báo đi càng sớm càng tốt, nhưng đó không phải là một hành động có hiệu quả cao. Do đó, điều thứ nhất là không nên hấp tấp trong khi viết. Sau khi viết xong bản thảo, có thể để đó vài ngày hay vài tuần. Sau đó, đọc lại và xem xét những chi tiết nào cần thêm hay cần bỏ đi. Đọc đi đọc lại với một cái nhìn mới để xem có gì cần phải phân tích thêm hay không, hay cách diễn dịch số liệu có hợp lí hay không. Kiểm tra lại cách viết và các đoạn văn có ăn khớp với nhau hay không, ý tưởng có trôi chảy hay không…

Sau đó là xem xét đến những chi tiết. Hai điểm quan trọng cần phải để ý ở đây. Thứ nhất, kiểm tra tính nhất quán: cả số liệu hay dữ kiện và các chú thích phải nhất quán với văn bản, bảng thống kê, và biểu đồ. Thứ hai là loại bỏ những “nhiễu” – tức là những điểm lặp đi lặp lại hay những điểm làm cho người đọc sao lãng cái thông điệp chính trong bài báo. Có khi cần phải kiểm tra từng chữ một xem nó có thích hợp với mục đích của bài báo hay không. Tránh dùng những từ ngữ tối nghĩa, những biệt ngữ khó hiểu, hay những viết tắt mà người ngoài chuyên môn chưa quen biết.

Một bài báo thường phải qua bình duyệt từ ban biên tập của tập san. Nếu tập san cho tác giả cơ hội trả lời những phê bình này, đó là một bước tiến tích cực. Tuy nhiên, việc trả lời những phê bình của ban biên tập không phải lúc nào cũng là việc làm thoải mái, dù sau khi phản biện thì bài báo sẽ tốt hơn. Trong khi trả lời phê bình, điều tối quan trọng là không nên có thái độ quá chống chế, hay quá công kích người phê bình. Tác giả có nhiệm vụ phải trả lời từng câu hỏi một, từng điểm phê bình một, và trả lời một cách lịch sự. Nếu tác giả không đồng ý với người bình duyệt, tác giả có quyền nói thẳng. Thông thường, sau khi trả lời bình duyệt, bài báo phải có sửa đổi, và tác giả phải thông báo cho ban biên tập biết những chỗ nào đã thay đổi và tại sao thay đổi.

Khoa học là một trường hoạt động khá bình đẳng. Công trình của tác giả có người khác bình duyệt, và tác giả cũng có cơ hội bình duyệt công trình của người khác. Thành ra, để giúp đỡ đồng nghiệp và để tự mình cải tiến, tác giả nên nhận lời bình duyệt công trình nghiên cứu của các đồng nghiệp. Nếu tác giả cảm thấy học hỏi được một vài điều từ việc trả lời phê bình của người khác, tác giả cũng có thể học hỏi nhiều điều từ việc đọc và phê bình công trình của đồng nghiệp. Qua đọc và xem xét cẩn thận, tác giả sẽ cảm thấy mình trưởng thành và thoải mái với các nguyên lí và sự sắp xếp của các lí giải trong một bài báo khoa học. Làm người bình duyệt là một hình thức tự mình trao dồi kĩ năng nghiên cứu. Nhận dạng nhầm lẫn của người khác cũng có nghĩa là nâng cao kĩ năng nhận dạng nhầm lẫn của chính mình.

Ai trong chúng ta cũng muốn là tác giả của những bài báo khoa học tốt, những bài báo mà chúng ta có thể tự hào, và hi vọng sẽ được lưu truyền rất lâu trong tương lai. Tuy nhiên, dù chúng ta có cẩn thận cách mấy, và bất kể bao nhiêu lần chúng ta đọc đi đọc lại, rà soát, xác suất bài báo có ít nhất là một sai lầm hay lỗi nhỏ đều rất cao. Một cá nhân rất khó mà phát hiện tất cả các lỗi lầm của chính mình. Điều đó có nghĩa là tác giả cần đồng nghiệp, những người đọc và phê bình một cách nghiêm túc và thành thật. Tác giả cần phải bỏ tính tự ái, và không nên sợ hãi trước những phê phán. Theo kinh nghiệm của người viết bài này, những phê phán của đồng nghiệp, dù lớn hay nhỏ, dù gay gắt hay thân thiện, lúc nào cũng giúp cho bài báo trở nên hoàn hảo hơn.

Ở phần đầu đã nêu ra vài lí do tại sao cần phải công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế, ở đây muốn nói thêm một lí do quan trọng hơn nữa. Đối với quốc gia, công bố báo cáo khoa học trên các diễn đàn khoa học quốc tế là một cách không chỉ nâng cao sự hiện diện, mà còn nâng cao năng suất khoa học, của nước ta. Ở phương Tây người ta thường đếm số lượng bài báo khoa học mà các nhà khoa học công bố trên các tập chí khoa học để đo lường và so sánh hiệu suất khoa học giữa các quốc gia. Hiện nay, trong bất cứ lĩnh vực nào, phải nhìn nhận một thực tế là hiệu suất khoa của nước ta chưa cao. Phần lớn các công trình nghiên cứu tại nước ta chỉ được kết thúc bằng những buổi nghiệm thu hay luận án. Đối với hoạt động khoa học, cho dù công trình đã được nghiệm thu hay đưa vào luận án, nếu chưa được công bố trên các diễn đàn khoa học quốc tế thì công trình đó coi như chưa hoàn tất, bởi vì nó chưa qua “thử lửa” với môi trường rộng lớn hơn.

Để kết thúc bài viết này, xin mượn một câu nói của một người thông thái, Khổng Tử: “Nếu dùng ngôn ngữ không đúng, thì những gì được phát biểu sẽ bị hiểu sai; nếu những gì phát biểu bị hiểu sai, thì những gì cần phải làm sẽ không thực hiện được; và những gì không thực hiện được, đạo đức và nghệ thuật sẽ trở nên tồi tệ hơn”. Và nước nhà sẽ thiệt thòi hơn.

Sơ đồ 3:  Cải tiến

Cách tiếp cận căn bảnChú thích
Cải tiến bài báo: Không hấp tấp; đọc và sửa lại liên tục.·   Cần phải để dành thời gian, suy nghĩ lại, lĩnh hội vấn đề, đọc lại một lần nữa với một cách nhìn hoàn toàn mới
·   Xem xét lại cấu trúc bài báo; xem có phần nào thiếu nhất quán hay không; có mâu thuẫn trong lí giải hay không; xóa bỏ những phần lặp đi lặp lại.
Trả lời những phê bình của người duyệt bài·   Trả lời từng điểm một, tuyệt đối không chối bỏ bất cứ điểm nào;
·   Phải lịch sự trong khi trả lời, không dùng những từ mang tính thách thức và tấn công cá nhân; nếu cần bất đồng ý kiến với người duyệt bài, cứ nói thẳng như thế;
·   Thông báo cho biên tạp biết những gì đã thay đổi trong bài báo và giải thích tại sao phải thay đổi.
Cải tiến kĩ năng phê bình công trình của người khác·   Sẵn sàng phục vụ làm người bình duyệt bài cho các tập san khoa học;
·   Công bằng và vô tư trong việc phê bình;
·   Không duyệt bài nếu cảm thấy mình có mâu thuẫn quyền lợi cá nhân.

 

Tóm tắt những điểm chính:
+ Nên bắt đầu viết sớm trước khi hoàn tất công trình nghiên cứu.
+ Tập trung vào những gì mà người đọc cần đọc: tựa đề, tóm tắt, biểu đồ, bảng số liệu.
+ Phát thảo một cách tiếp cận có hệ thống: dẫn nhập, phương pháp, kết quả, và thảo luận.
+ Cải tiến bài báo bằng cách yêu cầu giúp đỡ từ đồng nghiệp.

Nguồn: http://tonghoiyhoc.vn
Trao đổi mạn đàm

GS.TS. Nguyễn Văn Tuấn
Viện nghiên cứu y khoa Garvan, Australia

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MÃ SỐ CHUẨN QUỐC TẾ CHO TẠP CHÍ, SÁCH VÀ SỰ PHÂN LOẠI TẠP CHÍ KHOA HỌC

1. Mã số ISSN cho tạp chí và mã số ISBN cho sách

ISSN (International Standard Serial Number) là mã số chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ (XBPNK), một mã được công nhận trên phạm vi toàn thế giới nhằm xác định nhan đề của các XBPNK. Khi đã có chỉ số ISSN, thì tạp chí sẽ được quốc tế thừa nhận chính thức và giới thiệu trên quy mô toàn cầu, hay nói nôm na là đã có “thẻ căn cước” để đi lại trong “làng” thông tin toàn cầu. Nhưng ISSN không liên quan đến việc bảo vệ quyền sở hữu, bản quyền hoặc bảo vệ nhan đề của XBPNK với các nhà xuất bản khác. Khác với sự xét chọn và phân loại theo chất lượng tạp chí khoa học của Viện Thông tin Khoa học (Institute for Scientific Information, ISI, Hoa Kỳ) hoặc Scopus của Nhà xuất bản Elsevier (Hà Lan), chỉ số ISSN của một tạp chí không liên quan đến chất lượng khoa học của các bài báo được đăng ở trong đó.

Danh sách ISSN này bao hàm và rộng hơn rất nhiều so với danh sách ISI và Scopus. Hiện nay, danh sách ISI bao gồm khoảng 10.000 tạp chí. Cho đến tháng 5 năm 2012, Scopus bao gồm 18.500 tạp chí về khoa học tự nhiên, công nghệ, kỹ thuật, y dược và khoa học xã hội của hơn 5.000 nhà xuất bản (15% của Elsevier và 85% của các nhà xuất bản quốc tế khác). Danh sách ISSN bao gồm khoảng 1,3 triệu tên XBPNK (xem mô tả ở hình dưới). Thế nhưng ở Việt Nam vẫn còn một số tạp chí chưa đăng ký để có chỉ số ISSN. Từ năm 2012, chỉ những bài báo khoa học được đăng ở các tạp chí có chỉ số ISSN mới được Hội đồng Chức danh giáo sư các cấp xem xét, tính điểm.

Văn phòng Hội đồng Chức danh giáo sư nhà nước (HĐCDGSNN) xin kiến nghị các ban biên tập tạp chí khoa học trong cả nước, sau khi tạp chí đã được Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông, cấp Giấy phép xuất bản (xem như là “giấy khai sinh”), cần phải làm tiếp thủ tục đăng ký (miễn phí) mã số chuẩn quốc tế ISSN (để làm “thẻ căn cước”) tại: Trung tâm ISSN Việt Nam, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ, Số 24, Lý Thường Kiệt, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội, Phòng 310 (tầng 3), ĐT: 04-39349116, Fax: 04-39349127, E-mail: Tranhanh@vista.gov.vn, website: vista.vn.

Thêm vào đó, theo chúng tôi biết thì mới có rất ít sách đã được xuất bản tại Việt Nam có mã số chuẩn quốc tế ISBN (International Standard Book Number). Đây là mã số chuẩn quốc tế để xác định một quyển sách. Trên thế giới, khái niệm và việc đăng ký mã số ISBN cho sách được bắt đầu từ những năm 1966-1970 và đã trở thành thông lệ, còn ở ta mới từ năm 2007. Đây là việc làm tuy nhỏ nhưng lại cần thiết để chuẩn hoá công việc xuất bản và hội nhập quốc tế. Văn phòng HĐCDGSNN sẽ kiến nghị HĐCDGS các cấp, trong tương lai gần, chỉ xem xét tính điểm những cuốn sách khoa học đã được xuất bản nhưng có mã số ISBN. Việc đăng ký mã số chuẩn quốc tế ISBN được thực hiện tại: Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông, Số 10, Đường Thành, Hà Nội, ĐT: 04-39233152 và 04-39233153.

2. Phân loại ISI

Viện Thông tin khoa học (Institute for Scientific Information, ISI, Hoa Kỳ) đã xét chọn chất lượng của các tạp chí trên thế giới một cách khắt khe và kỹ lưỡng để đưa vào cơ sở dữ liệu của họ. Mặc dù vẫn còn có những ý kiến chưa thống nhất, nhưng ISI vẫn là một trong rất ít cách phân loại được thừa nhận và sử dụng rộng rãi khi bàn luận về chất lượng khoa học của các công trình nghiên cứu. Liên hợp quốc, các Chính phủ và các Tổ chức quốc tế thường sử dụng thống kê của ISI trong quản lý và hoạch định các chính sách khoa học, kỹ thuật. Các thống kê và đánh giá về khoa học, công nghệ và kỹ thuật nếu không theo ISI thì bị lệch so với thống kê quốc tế.

ISI lúc đầu (năm 1960) chỉ bao gồm tập hợp SCI (Science Citation Index) với khoảng khoảng 4.000 tạp chí khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ có chất lượng cao và truyền thống lâu đời nhất trên thế giới (http://science.thomsonreuters.com/cgi-bin/jrnlst/jlsubcatg.cgi?PC=K). Về sau SCI mở rộng thành tập hợp SCIE (Science Citation Index Expanded) với khoảng 7.000 tạp chí khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ xuất bản từ năm 1900 đến nay (http://science.thomsonreuters.com/cgi-bin/jrnlst/jlsubcatg.cgi?PC=D). Hiện nay, ISI còn bao gồm tập hợp SSCI (Social Science Citation Index) với hơn 2.000 tập chí xuất bản từ năm 1956 đến nay và A&HCI (Arts & Humanities Citation Index) với hơn 1.200 tập chí xuất bản từ năm 1975 đến nay. Như vậy, ISI là tập hợp bao hàm cả SCI, SCIE, SSCI và A&HCI với tổng cộng khoảng 10.000 tạp chí khoa học có chất lượng cao, trong tổng số hàng trăm nghìn tạp chí “thượng vàng hạ cám” trên thế giới.

Chất lượng của các tạp chí ISI chủ yếu được đánh giá dựa trên qui trình kiểm duyệt để đăng bài và các thống kê về chỉ số được trích dẫn của các bài báo đăng trên tạp chí đó thông qua chỉ số ảnh hưởng (Impact Factor, IF). Các chỉ số khoa học từ nguồn ISI đã được Tổ chức xếp hạng đại học của Đại học Giao thông Thượng Hải (Trung quốc) sử dụng để đánh giá số lượng, chất lượng nghiên cứu khoa học và xếp hạng các trường đại học trên thế giới. Khi không có công bố các kết quả nghiên cứu trên các tạp chí ISI thì các trường đại học, các cơ sở nghiên cứu khoa học sẽ không bao giờ lọt được vào bảng xếp hạng quốc tế nào.

Để dễ hình dung, tạm phác hoạ sơ đồ mô tả sự phân loại tạp chí khoa học theo ISI và chỉ số ISSN đối với tạp chí, ISBN đối với sách như sau:

3. Phân loại Scopus

Như đã nói ở trên, hiện nay, bên cạnh phân loại ISI, nhiều tổ chức xếp hạng thế giới, ví dụ như Tổ chức xếp hạng các cơ sở nghiên cứu khoa học SCIMAGO (http://scimagojr.com) hoặc Tổ chức xếp hạng đại học (QS World University Rankings, http://www.topuniversities.com) còn sử dụng cơ sở dữ liệu từ nguồn Scopus (được xây dựng từ tháng 11 năm 2004) của Elsevier (Hà Lan). Để được liệt kê vào danh sách Scopus, các tạp chí cũng được lựa chọn nghiêm ngặt. Số lượng tạp chí nằm trong Scopus gần gấp đôi số lượng nẳm trong ISI, nhưng không bao gồm tất cả mà chỉ chứa khoảng 70% số lượng tạp chí của ISI. Tuy nhiên, nguồn Scopus chỉ bao gồm các bài báo xuất bản từ năm 1995 trở lại đây. Cách đánh giá chất lượng các tạp chí của Scopus cũng dựa vào chỉ số ảnh hưởng IF, nhưng trang web của Scopus (http://www.scopus.com) rất tiện ích khi sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, từ tra cứu tài liệu đến đánh giá tình hình nghiên cứu khoa học của các cá nhân và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu… Các số liệu của Scopus đã được SCIMAGO sử dụng để đánh giá, xếp hạng các tạp chí khoa học và các cơ sở khoa học. Theo số liệu đó, trong số hơn 2.800 cơ sở nghiên cứu mạnh ở trên thế giới, Việt Nam chúng ta đã có tên 3 đơn vị: Viện KH-CN Việt Nam, ĐHQG TPHCM và ĐHQG HN. Đặc biệt, trang web SCIMAGO (http://scimagojr.com) mở miễn phí, trong đó các tạp chí được xếp hạng chung và xếp hạng theo từng lĩnh vực và ngành hẹp, rất thuận tiện để Hội đồng chức danh Giáo sư các cấp tra cứu, đánh giá chất lượng của các tạp chí khoa học quốc tế và bài báo khoa học liên quan.

Cho đến nay, Việt Nam chưa có tạp chí khoa học nào được lọt vào danh sách ISI. Bộ KH-CN, Viện KH-CN Việt Nam và các cơ quan liên quan đã và đang cố gắng giới thiệu một số tạp chí khoa học của ta ra quốc tế để chúng ta có thể có được những tạp chí khoa học đầu tiên đạt chuẩn quốc tế ISI. Rất mừng vừa qua tạp chí toán học Acta Mathematica Vietnamica của Viện Toán học (Viện KH-CN Việt Nam) lần đầu tiên được lọt vào danh sách Scopus. Các quốc gia trong cộng đồng ASEAN như Malaysia đã có 48 tạp chí và Thái Lan đã có 21 tạp chí được công nhận để xếp vào hệ thống Scopus.

Chúng ta có thể tham khảo cách đánh giá các công bố quốc tế khi tài trợ cho các đề tài nghiên cứu cơ bản của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghê Quốc gia (NAFOSTED, website: http://nafosted.gov.vn). Cần phải nhấn mạnh thêm rằng đối với nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, công bố quốc tế không chỉ là một đòi hỏi quan trọng đối với các nhà khoa học trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ, mà ngay cả đối với các lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn… Gần đây, khi Trung Quốc tăng cường lấn chiếm trên Biển Đông, thì chúng ta càng thấy rõ tầm quan trọng to lớn của những tiếng nói và tài liệu có căn cứ khoa học trên các diễn đàn quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam trong các lĩnh vực như khảo cổ, lịch sử, địa lý, biển đảo, luật quốc tế, ngoại giao… để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

4. Chỉ số H và IF

Khi xếp hạng một cách tương đối chính xác các tạp chí khoa học trên thế giới người ta thường dựa vào các chỉ số “đo” chất lượng khoa học của tạp chí, ví dụ chỉ số ảnh hưởng IF (Impact Factor) và chỉ số H (H-index). “Rất khó đánh giá chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học, vì cộng đồng khoa học vẫn chưa nhất trí một chuẩn mực thống nhất cho tất cả các lĩnh vực nghiên cứu”. Tuy nhiên, hai chỉ số (có quan hệ với nhau) thường được sử dụng để ước định chất lượng của một công trình nghiên cứu khoa học là chỉ số ảnh hưởng và số lần trích dẫn (citation index). Theo định nghĩa được công nhận, hệ số ảnh hưởng IF là số lần trích dẫn hay tham khảo trung bình các bài báo mà tạp chí đã công bố hai năm trước. Do đó, những công trình nghiên cứu được công bố trên các tạp chí có hệ số ảnh hưởng cao, ví dụ như Science, Nature, …, thường có chất lượng khoa học rất cao. Tuy nhiên, hệ số ảnh hưởng của tạp chí cũng còn phụ thuộc vào các ngành khoa học khác nhau.

Năm 2005, nhà vật lý người Mỹ Jorge Hirsch của Đại học California ở San Diego đã đưa thêm chỉ số H (H-index) để đánh giá các kết quả khoa học và làm cơ sở so sánh đóng góp khoa học của các nhà khoa học khác nhau (trong cùng lĩnh vực). Theo Jorge Hirsch thì một nhà khoa học có chỉ số H nếu trong số N công trình của ông ta có H công trình khoa học (H < N) có số lần trích dẫn của mỗi bài đạt được từ H trở lên. Như vậy, chỉ số H chứa đựng được cả hai thông tin: số lượng (số các bài báo được công bố) và chất lượng, tầm ảnh hưởng (số lần được các nhà khoa học khác trích dẫn) của hoạt động khoa học.

Jorge Hirsch cũng đã xem xét chỉ số H cho một số nhà khoa học và đưa ra nhận xét rằng, trong lĩnh vực vật lý lý thuyết, các nhà khoa học Mỹ thành công (successful) sẽ có chỉ số H = 20 sau 20 năm; một nhà khoa học nổi tiếng (outstanding) sẽ có chỉ số H = 40 sau 20 năm; thiên tài khoa học (truly unique individual) sẽ có chỉ số H = 60 sau 20 năm. Jorge Hirsch cũng đã đề nghị rằng ở Mỹ một nhà khoa học có thể bổ nhiệm phó giáo sư (associate professor) nếu có chỉ số H khoảng 12 và giáo sư (full professor) nếu H vào khoảng 18. Các nhà khoa học được giải thưởng Nobel thường có chỉ số H trong khoảng từ 35 đến 100. Chỉ số H cao nhất của một số lĩnh vực khác như hoá – lý: 100, sinh học: 160, khoa học máy tính: 70, trong khi đó lĩnh vực kinh tế học có chỉ số H vào khoảng 40.

Thiết nghĩ, khi đánh giá các ứng viên để trao giải thưởng khoa học hoặc để công nhận đạt tiêu chuẩn và bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư, nếu chúng ta tham khảo thêm chỉ số H của ứng viên đó thì sẽ có thêm thông tin về mức độ ảnh hưởng của ứng viên đó trong cộng đồng khoa học cùng lĩnh vực. Hiện nay việc tìm chỉ số H của bất cứ nhà khoa học học nào đều rất đơn giản nhờ trang web của Scopus.

5. Một vài lưu ý khi trình bày bài báo trong các tạp chí khoa học

Gần đây, sau khi làm việc với 27 HĐCDGS ngành, liên ngành để tính điểm bài báo được đăng trong các tạp chí khoa học và tính điểm sách khoa học của các ứng viên giáo sư, phó giáo sư, Văn phòng HĐCDGSNN xin nêu lên một số nhận xét bước đầu như sau:

Cho đến nay, theo yêu cầu của HĐCDGSNN, hầu hết các tạp chí khoa học của nước ta, nơi đăng những bài báo khoa học của các ứng viên, đã được đăng ký mã số chuẩn quốc tế cho xuất bản phẩm nhiều kỳ ISSN. HĐCDGSNN đã quy định từ năm 2012 trở đi chỉ những bài báo khoa học được đăng trong các tạp chí có chỉ số ISSN mới được các hội đồng chức danh giáo sư các cấp xem xét, tính điểm. Xin lưu ý thêm rằng, trong Thông tư số 10/2009/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 5 năm 2009 về Quy chế đào tạo trình độ tiến sĩ và trong Thông tư sửa đổi, bổ sung, số 05/2012/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 02 năm 2012, Bộ GD-ĐT cũng đã quy định, khi nghiên cứu sinh bảo vệ luận án tiến sĩ, nếu có những bài báo khoa học được đăng ở trong nước, thì chỉ được sử dụng những bài báo đã được công bố trên các tạp chí mà HĐCDGSNN tính điểm (xem “Văn bản pháp quy và tài liệu hướng dẫn về việc xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2012” của HĐCDGSNN). Bộ GD-ĐT cũng đã khuyến khích nghiên cứu sinh đăng bài trên các tạp chí khoa học quốc tế có uy tín được liệt kê tại địa chỉ http://science.thomsonreuters.com/mjl/.

Theo thông lệ quốc tế thì khi một bài báo khoa học được đăng trên tạp chí thường kèm theo các thông tin sau đây: Ngày tòa soạn nhận được bài báo (received), ngày phản biện đánh giá, yêu cầu sửa chữa lại bài báo (revised), ngày bài báo được đăng (accepted for publication), tóm tắt bài báo – summary/abstract (nếu bài báo được viết bằng tiếng Việt thì nên có tóm tắt bằng tiếng Anh), các mã số phân loại chuyên ngành của bài báo (subject classification), các từ khóa trong bài báo (keywords), tài liệu tham khảo khi viết bài báo (references)… Văn phòng HĐCDGSNN kiến nghị Hội đồng Chức danh giáo sư các cấp: Để tiếp cận các quy chuẩn quốc tế, trong một tương lai gần, chỉ nên xem xét những bài báo khi được đăng ở trong nước đã có đủ các thông tin nêu trên. Mặc dù chúng ta biết rằng một bài báo khoa học được đăng ở trong nước với đầy đủ các thông tin như trên chưa hẳn chất lượng khoa học đã cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Phạm Duy Hiển, A comparative study of research capabilities of East Asian countries and implications for Vietnam, High Educ., (Springer), Vol. 60, p. 615-626, 2010.

2. Phạm Duy Hiển, Nguyễn Văn Tuấn, Nguyễn Hữu Đức, Phạm Đức Chính, thông qua các đường link:

http://vietsciences.free.fr/khaocuu/congtrinhkhoahoc/khoahocvadaihocvn.htm),

http://www.ykhoanet.com/binhluan/nguyenvantuan/071229_nguyenvantuan-nguyendinhnguyen_chatluong-nckh-vietnam.htm), http://www.pnas.org/cgi/content/abstract/102/46/16569,

3. http://en.wikipedia.org/wiki/H-index.

4. Nguồn thông tin từ Trung tâm ISSN Việt Nam, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Bộ Khoa học và Công nghệ và từ Cục Xuất bản, Bộ Thông tin và Truyền thông.

5. http://science.thomsonreuters.com/cgi-bin/jrnlst/jlsubcatg.cgi?PC=K

6. http://science.thomsonreuters.com/cgi-bin/jrnlst/jlsubcatg.cgi?PC=D

GS. Trần Văn Nhung

 

 

 

CHỈ SỐ TÁC ĐỘNG VÀ SỐ LƯỢNG TRÍCH DẪN (IF INDEX AND CITESCORE)


Citescore là tỉ lệ của tổng trích dẫn của 3 năm gần đây trên tổng bài báo được đăng của 3 năm gần đây tương ứng.


IF là tỉ lệ của tổng trích dẫn của 2 năm gần đây trên tổng số bài báo được đăng của 2 năm gần đây.

Đối với một bài báo công bố trên tạp chí quốc tế ISI hoặc Scopus, có thể có bốn khả năng sau đây:

1. Bài báo công bố trên tạp chí có IF hoặc Citescore rất cao, và được trích dẫn nhiều.
2. Bài báo công bố trên tạp chí có IF hoặc Citescore rất cao, nhưng ít được trích dẫn.
3. Bài báo công bố trên tạp chí có IF hoặc Citescore không cao nhưng được trích dẫn nhiều.
4. Bài báo đăng trên tạp chí có IF hoặc Citescore nhỏ, và được trích dẫn ít.

1. Loại bài báo thứ nhất là quá tốt và không phải bàn cãi.

2. Các bài báo loại thứ hai, có thể đó cũng là bài báo có kết quả là tốt, nhưng ít được trích dẫn vì nhiều lý do như lĩnh vực nghiên cứu không có nhiều người làm và quan tâm. Nhưng ngược lại cũng không loại trừ khả năng đó là bài báo có nội dung không xuất sắc, những phản biện sơ sài cho đăng vì thấy tác giả là người nghiên cứu nhiều kinh nghiệm.

3. Loại bài thứ ba, thường thì đó là bài báo có chất lượng, nhưng không được đăng trên tạp chí có IF cao vì tên tuổi tác giả chưa mấy người biết đến, và ý tưởng của bài báo còn quá mới mẻ. Tuy nhiên, phải nhấn mạnh rằng những trường hợp như vậy là không nhiều, và những ý tưởng khoa học hay phải dựa trên nền khoa học cơ sở vững chắc để đảm bảo tính khả thi. Ở Việt Nam, không ít các nhà tự học đã đưa ra những ý tưởng khoa học điên rồ, làm mất khá nhiều công sức của các cơ quan khoa học Việt Nam.

4. Loại bài thứ tư, vừa không được đăng trên tạp chí có chỉ số IF cao, vừa ít được trích dẫn. Trong số này vẫn có thể có khả năng hi hữu đó là các công trình khoa học hay, bởi có ý kiến cho rằng có thể đương thời mọi người chưa hiểu hết giá trị của công trình và phải đến mấy chục năm sau ý tưởng đó mới được sử dụng. Điều này hoàn toàn có thể, nhưng phải nhấn mạnh rằng, với việc phân nhánh sâu sắc của khoa học hiện nay thì điều nói trên là hầu như không còn, và theo quan điểm của đa số mọi người là các công trình khoa học hay thì thường được trích dẫn nhiều.

Như vậy, có thể nói rằng trong đa số các trường hợp, chỉ số IF của tạp chí càng cao thì bài viết đăng trên đó càng có giá trị. Mặc dù có một số khả năng ngoại lệ hi hữu như đã đề cập, nhưng về cơ bản việc đánh giá chất lượng bài viết căn cứ trên IF của tạp chí là điều khá hợp lý. Trong ngành vật lý năng lượng cao của tác giả tạp chí với IF < 0,5 khác một trời một vực với tạp chí lớn hơn 4 – qua đó chúng ta cũng thấy rằng không thể đánh đồng chất lượng các tạp chí SCI/ISI, vì tùy theo IF cao hay thấp mà đó là thượng vàng hay hạ cám.

Nhưng phải lưu ý là: IF các ngành có thể rất khác nhau. Với những ngành ít biến động như Toán, các tạp chí sẽ có IF thấp hơn so với những ngành mà quan điểm có thể thay đổi hằng năm như Y học, Thiên văn học và Vật lý năng lượng cao.

Tuy nhiên trong từng ngành các chuyên gia đều có thể kể ra những tạp chí uy tín hàng đầu. Đăng được một bài trong các tạp chí uy tín phải tốn rất nhiều công sức và đối với một số người là ngưỡng khó có thể vượt qua. Một số ý kiến cho rằng việc đánh giá chất lượng công trình do Quỹ NAFOSTED tài trợ ở mỗi ngành nên tính theo mức chỉ số IF của tạp chí ở cấp trung bình của ngành đó, quy thành một đơn vị bài báo và tổng bài báo đăng ký sẽ tương đương với tổng số IF mà các công bố của ứng viên phải đạt được. Ví dụ: Nếu một ứng viên đăng ký 2 bài ISI, lấy bài báo trung bình của ngành có IF = 1, vậy ứng viên phải có tổng IF =2. Kết quả là: Nếu đề tài công bố 1 bài có IF=2 hoặc 4 bài có IF=0,5 sẽ đều được tính là hoàn thành chỉ tiêu đặt ra. Cách tính này sẽ giúp năng cao các công trình khoa học mà không chạy theo số lượng các công bố như hiện nay.

Hiện nay, qua giai đoạn đầu của Quỹ NAFOSTED, chúng ta tạm chấp nhận việc đặt chỉ tiêu nghiệm thu các đề tài theo số lượng công bố trên các tạp chí ISI, nhằm tăng các công bố khoa học quốc tế, và cũng để cho các tác giả quen dần với việc đăng bài trên các tạp chí quốc tế. Nhưng rõ ràng trong tương lai, chúng ta phải chú trọng năng cao chất lượng công bố khoa học, và khi đó việc tính tới IF cùng số trích dẫn sẽ là căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng đề tài.

Tham khảo:
1. http://isi-journal.vn 
2. https://wos-scopus.eu 
3. https://www.elsevier.com

 

KHÁM SỨC KHỎE ĐỊNH KỲ: TẤT CẢ MỌI NGƯỜI NÊN BIẾT

Nguồn: Internet

1. TẠI SAO PHẢI KHÁM SỨC KHỎE?

1.1. Phát hiện bệnh sớm và phòng bệnh hiệu quả

Nhiều người trông rất khỏe mạnh nhưng bên trong cơ thể lại tiềm ẩn những mầm bệnh nguy hiểm như tế bào ung thư hay các bất thường liên quan đến các bệnh tiểu đường, mỡ máu… Khám sức khỏe định kỳ sẽ giúp phát hiện những mầm bệnh ấy sớm nhất. Những người mang trong người những bệnh này biểu hiện ở giai đoạn đầu hoàn toàn bình thường và thời gian này thường dài. Tuy nhiên bệnh sẽ phát triển rất nhanh vào giai đoạn sau. Đến lúc phát hiện ra thì bệnh thường ở giai đoạn sau và giai đoạn cuối rất khó chữa.

Ví dụ như, các căn bệnh ung thư giai đoạn đầu dễ điều trị, các căn bệnh về đường ruột có thể chữa dứt điểm, các bệnh về da chữa sớm sẽ tránh lây lan. Việc phòng ngừa rất quan trọng, tránh mọi diễn biến xấu từ các căn bệnh nguy hiểm này. Có rất nhiều trường hợp khi đến bệnh viện khám và phát hiện ra bệnh thì bệnh đã ở giai đoạn muộn hoặc đã có biến chứng phức tạp, rất khó chữa, mất nhiều thời gian và tốn rất nhiều chi phí mà chưa chắc đã trị dứt bệnh.

Phòng bệnh hơn chữa bệnh là mục đích hàng đầu của việc khám sức khỏe định kỳ. Căn cứ trên những chỉ số xét nghiệm và hình ảnh học hoặc thăm khám lâm sàng, các bác sĩ sẽ tư vấn tận tình về việc thay đổi lối sống, chế độ dinh dưỡng cần thiết giúp nâng cao sức đề kháng của cơ thể để phòng ngừa bệnh tật.

Chúng ta đều biết, hiện nay trên thế giới đã phát hiện rất nhiều bệnh, có những căn bệnh chỉ phát hiện theo thời gian bằng cách theo dõi định kỳ, cũng có những bệnh phát triển từ lành tính và chuyển dạng thành ác tính. Hoặc từ cơ thể hoàn toàn bình thường trong nhiều năm và lại sinh ra bệnh tật.

Ví dụ a: Một người hoàn toàn bình thường, tự nhiên bị đột quỵ và bị liệt nửa người. Người này ít đi khám, có tình trạng tăng mỡ máu và tăng huyết áp nhưng không biết để đi khám và điều trị, đến lúc biểu hiện bệnh thì đã quá muộn. Ít ai biết rằng bệnh này hoàn toàn có thể phòng tránh nếu bạn khám sức khỏe định kỳ và làm theo chỉ dẫn của nhân viên y tế.

Ví dụ b: Một người hoàn toàn bình thường, đột nhiên sụt cân 10kg trong vòng 1 tháng không có lý do. Đi khám thì phát hiện ung thư vú đã di căn giai đoạn muộn. Người này trước đó do ngại và không có thời gian nên không đi khám. Nếu người này được khám sức khỏe định kỳ để phát hiện sớm và phòng ngừa ung thư vú thì hoàn toàn có thể chữa khỏi ngay từ giai đoạn sớm. Nên nhớ rằng, các loại ung thư thường phát triển âm ỉ và ít có biểu hiện sớm ra bên ngoài cho nên mọi người thường rất chủ quan. 

Ví dụ c: Một phụ nữ tình cờ phát hiện 1 tổn thương kích thước 15x10mm ở thùy phải tuyến giáp. Các bác sĩ khuyến cáo cô nên theo dõi trên siêu âm từ 3-6 tháng / một lần. Tuy nhiên, cô lo lắng nên lựa chọn chọc hút sinh thiết cho yên tâm. Cuối cùng kết quả là lành tính. Từ đó cô an tâm hơn và cũng ít đi khám hơn. Tuy nhiên 1 năm sau, cô thấy có biểu hiện nổi hạch ở cổ nên đi khám thì phát hiện tuyến giáp có nhiều nhân tổn thương và tiến triển hơn, dáng vẻ ác tính. Đi xét nghiệm giải phẫu bệnh thì kết quả là ung thư giáp đã di căn hạch. Từ tình huống này ta rút ra một bài học đó là “một dấu hiệu ban đầu được chẩn đoán là lành tính, tuy nhiên chưa chắc dấu hiệu này là lành tính trong tương lai”. Tương tự ví dụ này nhân giáp ban đầu là lành tính, tuy nhiên theo thời gian nhân lành tính này có thể chuyển dạng thành ác tính.

1.2. Nâng cao hiệu quả điều trị và tránh các biến chứng

Khi bệnh được phát hiện sớm thì hiệu quả điều trị cũng sẽ tăng lên và phòng tránh được các biến chứng. Việc chữa trị sẽ dễ dàng hơn rất nhiều ở giai đoạn sớm so với giai đoạn muộn.

Ví dụ: Một bệnh nhân có một bệnh nhân có đa polyp túi mật. Đã phát hiện từ hơn 1 năm trước. Nhưng do chủ quan, nghĩ là bình thường nên không theo dõi. Đến lúc khi vào khám và được siêu âm bụng vì lý do đau bụng do ngộ độc thực phẩm, bác sĩ siêu âm lại phát hiện ra một khối bất thường ở túi mật và xâm lấn các cơ quan xung quanh, nhiều hạch vùng. Làm các xét nghiệm thì phát hiện ra ung thư túi mật. Trong trường hợp này, nếu bệnh nhân theo dõi sức khỏe định kỳ từ 3-6 tháng thì có thể phát hiện sớm và điều trị triệt để bằng phương pháp cắt túi mật. Cắt túi mật hiện nay cũng rất đơn giản qua nội soi, bệnh nhân cũng sinh hoạt và ăn uống hoàn toàn bình thường sau khi cắt túi mật.

1.3. Tiết kiệm thời gian và tiền bạc

Mỗi năm chúng ta chi ra một khoản để khám sức khỏe định kỳ dù không có bệnh. Nếu so sánh chi phí điều trị bệnh ở giai đoạn nhẹ với chi phí điều trị bệnh ở giai đoạn nặng thì con số này chắc chắn ít hơn.

Nhiều người ngạc nhiên vì sao khám sức khỏe thường xuyên lại tiết kiệm thời gian và tiền bạc. Thật vậy, khám bệnh thường xuyên giúp chữa trị sớm, dứt bệnh. Do vậy, bạn không cần nằm viện, thời gian và tiền bạc sẽ tiết kiệm được rất nhiều. Nếu bệnh phát hiện muộn thì việc điều trị kéo dài, tiền khám bệnh và nằm viện sẽ tăng lên. Đó là một trong những lí do các bạn nên đi khám bệnh định kỳ.

1.4. Kéo dài tuổi thọ và giúp cuộc sống hạnh phúc

– Khám sức khỏe định kỳ sẽ được các bác sĩ tư vấn chế độ ăn uống, luyện tập hợp lý để phòng chống bệnh tật, kéo dài tuổi thọ. Một trong những yếu tố giúp người Nhật có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới đó là họ luôn duy trì thói quen khám sức khỏe định kỳ 2 lần/năm.
– Lợi ích của việc khám sức khỏe định kỳ là rõ ràng. Để bảo vệ sức khỏe của chính mình, mỗi người cần quan tâm hơn nữa đến việc khám sức khỏe định kỳ, đừng để khi cơ thể có vấn đề mới đến gặp bác sĩ. Đó là một trong những biện pháp để dự phòng và bảo vệ sức khỏe của bạn, gia đình. Đó cũng chính là việc làm cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người.

1.5. Thiết lập hồ sơ bệnh án

Việc khám sức khỏe định kỳ giúp bạn thiết lập hồ sơ bệnh án cá nhân đầy đủ nhất. Trường hợp sau này bạn mắc một căn bệnh nào đó, bác sĩ sẽ dựa vào đó để tìm ra phương pháp điều trị thích hợp, hiệu quả giúp tiết kiệm thời gian cũng như chi phí thực hiện một số kiểm tra trong trường hợp khẩn cấp.

Lời khuyên dành cho mọi người:

  • Mọi người nên lưu trữ và sắp xếp các kết quả khám bệnh của mình gọn gàng và hợp lý.
  • Khi đi khám nên đưa tất cả các kết quả cũ đi cho bác sĩ xem
  • Khám bệnh ở cơ sở uy tín.
  • Khám nhiều bác sĩ và chọn các bác sĩ có trình độ cao hơn là khám một bác sĩ duy nhất để đảm bảo tính khách quan, trách tình trạng chủ quan từ 1 bác sĩ.
  • Không nên giấu giếm hoặc thử các bác sĩ về bệnh lý của mình hoặc giấu các kết quả cũ. Vì khi bác sĩ biết được tình trạng sức khỏe của bạn, họ sẽ đối chiếu so sánh với các kết quả cũ kỹ hơn cho bạn. Ví dụ một trường hợp, một bệnh nhân đau bụng vùng hố chậu phải đã 2 ngày, đi siêu âm ở 1 phòng khám ở gần nhà, bác sĩ kết luận là “theo dõi viêm ruột thừa và đề nghị nhập viện”. Sau 4 tiếng bệnh nhân được nhập viện tuyến trung ương, nhưng người nhà giấu kết quả siêu âm cũ. Các bác sĩ cấp cứu chỉ định cho bệnh nhân đi siêu âm bụng. Khi thăm khám, bác sĩ siêu âm khám thấy bụng bệnh nhân chướng hơi, không tìm thấy ruột thừa nên ghi nhận là “ruột thừa khó khảo sát” (trong trường hợp bụng nhiều hơi sẽ che mất ruột thừa và ruột thừa rất khó tìm). Khi trả về cấp cứu, các bác sĩ tiếp tục cho theo dõi thêm, nhưng nửa ngày sau bệnh nhân đau bụng quằn quại hơn. Các bác sĩ hội chẩn và đề nghị đưa bệnh nhân lên phòng mổ để thăm khám. Khi mổ thì ruột thừa đã vỡ và gây viêm phúc mạc, điều trị rất khó khăn. Từ ví dụ này rút ra được bài học, nếu người nhà khai bệnh đúng và không giấu kết quả siêu âm cũ thì bệnh nhân đã được chẩn đoán sớm và khi có những chẩn đoán từ trước các bác sĩ sẽ cho đi chụp CT để khẳng định chẩn đoán trong những trường hợp khó như trong ví dụ này. Bệnh nhân sẽ được phẫu thuật cắt ruột thừa sớm, tránh tình trạng ruột thừa vỡ gây viêm phúc mạc và gây biến chứng. Mọi người nên biết là không phải lúc nào cũng có thể chẩn đoán một cách chính xác được bệnh lý, có bệnh chỉ chẩn đoán được trong một số điều kiện nhất định.

1.6. Trách nhiệm và nghĩa vụ

  • Cơ sở sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho người lao động.
  • Cá nhân có nghĩa vụ thực hiện khám sức khỏe để cơ sở sử dụng lao động có kế hoạch sắp xếp công việc phù hợp.

2. TẠI SAO MỌI NGƯỜI LẠI SỢ KHÁM SỨC KHỎE?

2.1. Sợ tốn kém

Điều này bạn không nên bận tâm vì những lợi ích của nó mang lại. Khám sức khỏe có thể phát hiện và phòng ngừa bệnh tật sớm, có nhiều trường hợp không kiểm tra sức khỏe định kỳ đến khi phát hiện ra bệnh thì đã quá muộn. Ví dụ như các ung thư di căn, các bệnh lý giai đoạn cuối rất khó chữa, hoặc nếu chữa khỏi thì  thời gian sống còn lại sẽ rất ít và các sinh hoạt có thể cũng sẽ gặp nhiều bất tiện như phải dùng hậu môn nhân tạo, dính tắc ruột vì các biến chứng  do điều trị, dùng hormon nhân tạo cả đời khi phải cắt các tuyến nội tiết…

Thông thường mọi người thường làm việc trong một cơ quan hay doanh nghiệp, các ban lãnh đạo chủ quản sẽ có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe cho nhân viên. Những đợt khám sức khỏe do cơ quan tổ chức thì bạn không cần phải trả tiền cho những dịch vụ thường quy, bạn chỉ cần trả tiền những dịch vụ phát sinh thêm trong quá trình chẩn đoán và điều trị bệnh. Tuy nhiên nếu bạn đang làm việc tự do không có cơ quan chủ quản, thì bạn có thể chỉ cần bỏ ra một khoản tiền nhỏ để làm các gói khám sức khỏe thông thường như siêu âm tổng quát, Xquang ngực và các xét nghiệm máu….

2.2. Sợ đau

Bạn sợ khi lấy máu hoặc tiêm, thì kim tiêm sẽ làm bạn đau. Đừng lo lắng, hãy vượt qua sự sợ hãi bằng cách thả lỏng cơ thể, quan sát người khác để quen dần và nhân viên y tế sẽ hướng dẫn giảm đau cho bạn. Lúc lấy máu hoặc tiêm thì chỉ đau giống như “kiến cắn” và có rất những trường hợp không có cảm giác đau.

2.3. Sợ nhiễm xạ

Khám sức khỏe thường sử dụng kỹ thuật chụp Xquang ngực để phát hiện các bệnh lý về liên quan đến lồng ngực. Tuy nhiên khi nghe đến kỹ thuật dùng tia X, đa số mọi người đều rất sợ bị nhiễm xạ. Điều này bạn hoàn toàn không phải lo lắng quá, không tự nhiên mà thế giới lại sử dụng Xquang ngực vào các đợt khám sức khỏe và trong những lần khám bệnh thông thường. Xquang ngực có thể phát hiện nhiều bệnh lý liên quan đến phổi như viêm phổi, lao, u phế quản phổi, di căn, bệnh lý về phế quản, bệnh lý mạch máu, dị vật, các bệnh lý xương sườn và thành ngực…

Xquang ngực đã được sử dụng trong khám bệnh thường quy vì tính nhiễm xạ của nó rất thấp (hoặc hầu như không có). Liều nhiễm xạ của nó chỉ bằng 3 ngày đi tắm nắng hoặc 10 ngày nhận được trong tự nhiên (bức xạ trong thức ăn, đồ đạc, đất đai, vũ trụ, mặt trời….).

Có nhiều người rất sợ chụp Xquang hoặc CT hoặc các can thiệp sử dụng tia X. Bạn đừng lo lắng vì những tiến bộ kỹ thuật càng ngày càng hiện đại. Hiện nay bằng các kỹ thuật chụp giảm liều hoặc các thủ thuật che chắn các bộ phận trên cơ thể, lúc này liều bức xạ nhận được là tối thiểu, chỉ tương đương gấp vài lần chụp Xquang thông thường.

Một số nghiên cứu cho thấy, phụ nữ có thai sau 3 tháng có thể chụp các bộ phận thông thường mà không ảnh hưởng đến thai nhi. Phụ nữ mang thai dưới 3 tháng có thể chụp tối thiểu. Tuy nhiên các khuyến cáo đều nói rằng không nên chụp Xquang trong các thời điểm này trừ khi lợi ích phát hiện bệnh của phương pháp này quá lớn, và nên che chắn thai nhi đúng phương pháp để hạn chế bức xạ tối đa.

Một số bạn khi đi khám sức khỏe định kỳ chỉ muốn xin chữ ký bác sĩ Xquang hoặc bác sĩ chuyên khoa khác mà không muốn chụp Xquang ngực hoặc làm các xét nghiệm. Quan niệm này nên được loại bỏ vì những lý do sau đây:

  • Chụp Xquang ngực hầu như không bị nhiễm xạ, hoặc làm các xét nghiệm đều không có hại.
  • Có những người có rằng mình khỏe mạnh nhưng lại có nhiều bệnh lý, đến lúc khi cơ thể ốm yếu và biểu hiện các triệu chứng thì lúc này đã quá muộn.
  • Nếu không khám sức khỏe định kỳ thì không thể phát hiện bệnh, đến lúc có những đợt khám sức khỏe để xin việc, để đi nước ngoài thì mới “lòi ra bệnh”. Nếu bạn đã khám định kỳ thì lúc này bạn có thể yên tâm hơn về sức khỏe của mình.
  • Một số kết luận bệnh lý thông thường trong khám sức khỏe thường không quá nghiêm trọng. Các bạn sợ những bệnh như tăng acid uric, tăng mỡ máu, giảm hồng cầu, thiếu sắt, gan nhiễm mỡ, nang thận, u máu, nốt vôi hóa thận, nang keo giáp, vôi hóa mạch máu…. Những bệnh lý này quá quen thuộc nên không cần lo lắng quá, chỉ cần thay đổi thói quen lành mạnh là có thể phòng ngừa. Hơn nữa một số trường hợp thì coi như bình thường. Đừng vì một kết luận nhỏ mà sợ khám bệnh, cán bộ y tế sẽ tư vấn và điều trị cho bạn.

2.4. E ngại

  • Bạn e ngại người nhà, hàng xóm phát hiện ra bệnh của bạn?

Có những bệnh lý mang tính gia đình hoặc chỉ gặp ở địa phương nơi bạn sống, cho nên khi bạn phát hiện ra một bệnh có thể giúp mọi người xung quanh bạn có thể cũng được phòng và chữa bệnh.

  • Bạn sợ người yêu sắp cưới phát hiện ra bệnh của bạn?

Trường hợp 1: Khám sức khỏe trước hôn nhân, nếu phát hiện ra một bệnh nào đó, cả 2 người đồng ý và chấp nhận thì mới cưới nhau.
Trường hợp 2: Có bệnh nhưng giấu giếm đối phương, khi cưới về thì mới công khai hoặc đối phương tự phát hiện.

Trong 2 trường hợp trên bạn chọn trường hợp nào? Hiện nay xu hướng về khám sức khỏe tiền hôn nhân được chấp nhận rộng rãi. Do đó nên chọn trường hợp 1, các nghiên cứu thống kê cho rằng trường hợp 2 có tỷ lệ đổ vỡ gia đình cao hơn. Và có một tỷ lệ cao đối phương sẽ thông cảm và chấp nhận cưới khi phát hiện bệnh trước hôn nhân như trong trường hợp 1.

  • Bạn sợ bác sĩ khác giới khám bệnh cho bạn hoặc những bệnh lý tế nhị và thầm kín?

Hiện tại các cơ sở y tế đều đảm bảo tính bí mật cho người bệnh.  Quan niệm bác sĩ khác giới khám bệnh hiện nay là hoàn toàn bình thường. Không cần sợ ghen tuông hay e ngại gì cả. Hầu hết các cơ sở y tế khi bác sĩ khám cho người bệnh khác giới đều thường kèm một nhân viên y tế thứ 2 để người bệnh bớt lo lắng.

  • Còn nhiều thứ khác làm bạn sợ nữa nhưng khám sức khỏe rất hữu ích. Khám sức khỏe định kỳ là việc làm quan trọng và cần thiết. Hiện nay, nhiều người đã nhận thức sâu sắc và rất chú trọng vấn đề này. Tuy nhiên, cũng có không ít người dù hiểu được, nhưng lại không thực hiện thường xuyên vì nhiều lý do, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi hay những gia đình có đời sống khó khăn. Khám phát hiện bệnh, phòng bệnh và chữa bệnh là quan trọng, vì mục tiêu tăng tuổi thọ và cải thiện chất lượng cuộc sống.

3. NHỮNG BỆNH LÝ THƯỜNG GẶP TRONG KHÁM SỨC KHỎE CÓ ĐÁNG SỢ KHÔNG?

3.1. Các bệnh thường gặp

  • Nốt vôi hóa: Tình trạng vôi hóa có thể gặp ở nhiều nơi trong cơ thể. Tình trạng này thường tỷ lệ thuận với độ tuổi, tuổi càng tăng thì vôi hóa càng nhiều. Các vôi hóa thường gặp như: vôi hóa mạch máu, vôi hóa màng não, vôi hóa tuyến tùng, vôi hóa tiền liệt tuyến, vài nốt vôi hóa ở gan thận… Tuy nhiên những vôi hóa cần chú ý và theo dõi đó là: các tổn thương có vôi hóa như di căn vôi hóa ở gan, các nang thận có vôi hóa có dáng vẻ ác tính, vi vôi hóa ở tuyến giáp hoặc tuyến vú…
  • Gan nhiễm mỡ: Nhiều người cho rằng đây là 1 tình trạng phổ biến nên rất chủ quan. Gan nhiễm mỡ có thể dẫn đến tình trạng viêm mạn ở gan, xơ hóa và ung thư gan. Gan nhiễm mỡ cũng thường đi kèm với tình trạng đầy bụng, khó tiêu, rối loạn tiêu hóa. Đi kèm với các bệnh lý như tăng lipid máu, xơ vữa mạch máu, bệnh tiểu đường… Là nguy cơ của đột quỵ, nhồi máu cơ tim, tắc mạch, xuất huyết… Hãy theo dõi sức khỏe thường xuyên và phòng ngừa bằng cách thay đổi lối sống lành mạnh và hợp lý.
  • U máu gan (hemagioma): Đây là một bệnh lý mạch máu lành tính. Tuy nhiên ở các trường hợp có kích thước lớn cũng có thể gặp biến chứng như vỡ gây mất máu… Một số tổn thương có thể nhầm lẫn với các khối u tiến triển như di căn, K nguyên phát hoặc trong trường hợp tổn thương đi kèm với tình trạng nhiễm mỡ. Những trường hợp này chỉ phân biệt nếu theo dõi sức khỏe định kỳ.
  • Nang gan, nang thận: Đây thường là tình trạng lành tính, thường không ảnh hưởng đến chức năng gan thận. Tuy nhiên có một số trường hợp cần phải theo dõi chặt chẽ. Mọi người đi khám sẽ được các bác sĩ tư vấn trực tiếp.
  • Nang giáp, nhân giáp: Có thể xếp loại vào các nhóm: nhóm 1 lành tính, nhóm 2 khả năng lành tính, nhóm 3 chưa chắc chắn, nhóm 4 khả năng ác tính, nhóm 5 ác tính. Khi đi khám, các bác sĩ sẽ phân loại tổn thương vào các nhóm. Các nhóm 1 và 2 sẽ được theo dõi trên siêu âm và xét nghiệm định kỳ. Các nhóm 3, 4, 5 sẽ được chọc sinh thiết và điều trị triệt để bằng cách phẫu thuật hoặc hóa xạ trị tùy trường hợp…
  • Nang vú, tổn thương vú: Cũng tương tự như tuyến giáp, các tổn thương sẽ được phân loại dựa vào hình thái. Sau đó có thể được sinh thiết hoặc theo dõi định kỳ hoặc kết hợp.

3.2. Các bệnh lý nguy hiểm thường gặp

Xem chi tiết  tại đây

4. NẾU XẾP LOẠI SỨC KHỎE XẤU THÌ BẠN CÓ BỊ ĐUỔI VIỆC KHÔNG?

4.1. Quy định chăm sóc sức khỏe cho người lao động

Điều 152. Chăm sóc sức khỏe cho người lao động (quy định điều 152 của Bộ luật lao động 2012)

1. Người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho từng loại công việc để tuyển dụng và sắp xếp lao động.

2. Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần. .

3. Người lao động làm việc trong điều kiện có nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp phải được khám bệnh nghề nghiệp theo quy định của Bộ Y tế.

4. Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp phải được giám định y khoa để xếp hạng thương tật, xác định mức độ suy giảm khả năng lao động và được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động đúng theo quy định của pháp luật.

5. Người lao động sau khi bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nếu còn tiếp tục làm việc, thì được sắp xếp công việc phù hợp với sức khoẻ theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa lao động.

6. Người sử dụng lao động phải quản lý hồ sơ sức khoẻ của người lao động và hồ sơ theo dõi tổng hợp theo quy định của Bộ Y tế.

7. Người lao động làm việc ở nơi có yếu tố gây nhiễm độc, nhiễm trùng, khi hết giờ làm việc phải được người sử dụng lao động bảo đảm các biện pháp khử độc, khử trùng.

Xem Thông tư 14/2013/TT-BYT

4.2. Phân loại sức khỏe 

Sức khỏe được phân thành 5 loại và người sử dụng lao động sẽ dựa vào xếp loại sức khỏe để phân công công việc thích hợp.

  • Loại A: Rất khỏe
  • Loại B1: Khỏe
  • Loại B2: Trung bình
  • Loại C: Yếu
  • Loại D: Rất yếu

Xem  Bản tiêu chuẩn phân loại sức khỏe cán bộ

Xem Quyết định ban hành tiêu chuẩn phân loại sức khỏe để khám tuyển, khám định kỳ cho người lao động

4.3. Sắp xếp công việc

  • Cơ sở sử dụng lao động có trách nhiệm tổ chức khám sức khỏe và sắp xếp công việc hợp lý theo tình trạng sức khỏe.
  • Có trách nhiệm hoàn thành tục giám định sức khỏe, bồi thường, và trợ cấp đối với người lao động bị bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động. 
  • Bảo hiểm cũng sẽ giải quyết liên quan đến các vấn đề này.

Xem Thông tư hướng dẫn quản lý vệ sinh lao động, sức khỏe người lao động và bệnh nghề nghiệp

5. KHÁM SỨC KHỎE THẾ NÀO LÀ ĐÚNG?

  • Tùy theo tính chất nghề nghiệp cơ sở lao động sẽ tổ chức khám sức khỏe định kỳ mỗi 6 tháng / 1 lần hoặc 1 năm  / 1 lần. Theo khuyến cáo của các bác sĩ chuyên khoa, khám sức khỏe 2 lần/ năm là biện pháp tối ưu nhất giúp phát hiện kịp thời các vấn đề của cơ thể. Tuy nhiên, thời gian khám sức khỏe cá nhân định kỳ 6 tháng/ lần hay 1 năm/ lần còn tùy thuộc vào lứa tuổi, thể trạng cũng như tiền sử mắc bệnh của gia đình. Nếu gia đình có tiền sử mắc một số bệnh di truyền thì khoảng cách giữa các lần khám định kỳ sẽ ngắn hơn một gia đình có nền tảng sức khỏe vững chắc.
  • Đầu tiên lựa chọn những gói khám sức khỏe cơ bản. Sau đó, tùy tình trạng của cơ thể người lao động, có thể xem xét các gói khám sức khỏe nâng cao.
  • Tham gia khám định kỳ theo cơ sở lao động. Nếu phát hiện bệnh lý thì nên tự đi kiểm tra mỗi 3-6 tháng / 1 lần (Ví dụ, bạn phát hiện tuyến giáp và tuyến vú có tổn thương, còn các bộ phận khác của cơ thể bình thường. Thì tùy tình trạng bệnh, nên đi kiểm tra tuyến giáp và tuyến vú mỗi 3-6 tháng. Đồng thời kiểm tra tổng quát toàn bộ mỗi 6 tháng hoặc 1 năm / 1 lần). Nếu tình trạng bệnh nghiêm trọng hơn thì nên kiểm tra mỗi 1-3 tháng / 1 lần (Ví dụ, bạn mắc một tổn thương vú nghi ngờ ác tính cao và có yếu tố nguy cơ gia đình bạn có người bị ung thư vú,  thì nên kiểm tra 1-3 tháng / 1 lần vào thời gian đầu phát hiện. Khi theo dõi nếu bệnh ổn định hơn và ít thay đổi thì đi khám thưa hơn mỗi 6 tháng – 1 năm / 1 lần). Lưu ý có thể đi khám bất cứ lúc nào có nhu cầu hoặc nếu nghi ngờ bệnh lý.

6. CÁC GÓI KHÁM SỨC KHỎE

6.1. Tổng quát

Thông thường các cơ sở y tế có các gói khám sức khỏe như sau, giá cả tùy từng địa phương và tùy chất lượng của dịch vụ:

  • Gói khám sức khỏe công ty (khoảng 1.000.000 – 3.500.000 vnđ / 1 người).
  • Gói tổng quát cơ bản (khoảng 500.000 – 1.500.000 vnđ / 1 người).
  • Gói tổng quát chuyên sâu (khoảng 4.000.000 – 8.000.000 vnđ / 1 người).
  • Gói tổng quát cao cấp (khoảng 5.000.000 – 10.00.000 vnđ / 1 người).
  • Gói khám sức khỏe tiền hôn nhân (khoảng 2.500.000 – 3.500.000 vnđ / 1 người).
  • Gói tầm soát ung thư (khoảng 1.000.000 – 5.000.000 vnđ / 1 người).
  • Gói khám phụ khoa (khoảng 2.500.000 – 3.500.000 vnđ / 1 người).
  • Gói trẻ em (khoảng 1.000.000 – 2.500.000 vnđ / 1 người)

6.2. Chi tiết

Bảng 1: Gói khám sức khỏe cơ bản (Tham khảo)

STTDanh mụcChức năngĐơn giá Nam(VNĐ)Đơn giá Nữ (VNĐ)
1Khám Nội tổng quátPhát hiện sơ bộcác bệnh lý toàn thân (Đo cân nặng, chiều cao, mạch, huyết áp, nghe tim phổi, chẩn đoán sơ bộ bệnh lý...)2000020000
2Khám Ngoại tổng quátPhát hiện sơ bộcác bệnh lý ngoại khoa toàn thân2000020000
3Khám Răng Hàm MặtPhát hiện sơ bộ các bệnh lý về răng miệng, viêm nướu, sâu răng...2000020000
4Khám mắtPhát hiện sơ bộ các bệnh lý về mắt, đo thị lực2000020000
5Khám Tai Mũi Họng Phát hiện sơ bộ các bệnh lý về tai mũi họng (mũi họng, tai, thanh quản, xoang...)2000020000
6Nội soi Tai Mũi Họng Phát hiện bệnh lý về tai mũi họng150000150000
7Siêu âm bụng màuĐánh giá các bất thường ổ bụng (gan, mật, tụy, lách, thận, bàng quang...)150000150000
8Siêu âm tim 2DĐánh giá bệnh lý về cấu trúc tim250000250000
9Siêu âm tuyến vúPhát hiện bệnh lý về tuyến vú150000
10Siêu âm phụ khoaPhát hiện bệnh lý tử cung, buồng trứng150000
11Siêu âm tuyến giápPhát hiện bệnh lý về tuyến giáp, bệnh tự miễn, bướu giáp140000140000
12Điện tâm đồPhát hiện sớm các bệnh lý thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp6000060000
13Chụp X-quang phổi thẳng kĩ thuật sốPhát hiện bệnh lý về phổi và lồng ngực7000070000
14Chụp cột sống thắt lưng thẳng - nghiêngPhát hiện bệnh lý cột sống thắt lưng110000110000
15Tổng phân tích tế bào máuXét nghiệm công thức máu, phân tích hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu, huyết sắc tố, hematocrit... Phát hiện bệnh lý về máu, viêm nhiễm, thiếu máu...6000060000
16Xét nghiệm nhóm máu ABOKiểm tra nhóm máu4000040000
17Xét nghiệm HIVKiểm tra virus HIV7000070000
18Định lượng Glucose máuPhát hiện bất thường về đường máu2500025000
19Xét nghiệm định lượng UreĐánh giá chức năng thận3500035000
20Xét nghiệm CreatininĐánh giá chức năng thận3500035000
21Xét nghiệm mỡ máuĐánh giá hàm lượng mỡ trong máu200000200000
22Xét nghiệm HbsAg (test nhanh)Kiểm tra định tính virus viêm gan B6000060000
23Xét nghiệm Anti HCV (test nhanh)Kiểm tra định tính virus viêm gan C6000060000
24Xét nghiệm SGOT, SGPT (AST, ALT)Đánh giá chức năng gan5000050000
25Xét nghiệm GGTĐánh giá chức năng gan, viêm gan do nhiễm độc, do rượu bia4000040000
26Xét nghiệm Bilirubin TT, TPKiểm tra mật5000050000
27Xét nghiệm Acid uricKiểm tra Goute3500035000
28Xét nghiệm AFPĐịnh hướng chẩn đoán ung thư gan100000100000
29Xét nghiệm CA 19-9Định hướng chẩn đoán ung thư tụy180000180000
30Xét nghiệm CA 125Định hướng chẩn đoán ung thư buồng trứng 180000
31Xét nghiệm CA 15-3Định hướng chẩn đoán ung thư vú180000
32Xét nghiệm nước tiểu (10 thông số)Phát hiện tiểu đường, bệnh thận, viêm đường tiết niệu, viêm nhiễm, tiểu máu...4000040000
33Tế bào cổ tử cung (Pap’s mear)Kiểm tra ung thư cổ tử cung (Đối với nữ đã có gia đình)150000
34Nội soi cổ tử cungPhát hiện Polype và viêm lộ tuyến cổ tử cung70000
35Soi tươi dịch âm đạoTìm vi khuẩn âm đạo50000
36Khám Phụ Khoa Tư vấn rối loạn kinh nguyệt, sinh sản, rối loạn nội tiết...50000
37Khám Nam khoaKhám các bệnh lý nam khoa50000
38Tổng kết và tư vấnTư vấn sức khỏe3000030000
Tổng cộng21900003120000

Bảng 2: Gói khám sức khỏe nâng cao (Tham khảo)

Tên góiDịch vụ trong góiĐối tượngGiá
Chụp CT ổ bụng (có tiêm thuốc)Chụp CT ổ bụngKhách hàng có chỉ định kiểm tra, phát hiện những bệnh lý bất thường trong ổ bụng (Gan mật, thận tiết niệu, ống tiêu hóa…), khách hàng có nhu cầu2000000
Chụp CT phổi liều thấp tầm soát u (không tiêm thuốc)Chụp CT phổi liều thấp tầm soát uTầm soát u và các bệnh lý nhu mô phổi, khách hàng có nhu cầu1000000
Chụp CT tầm soát toàn thân có tiêm thuốcChụp CT tầm soát toàn thânKhách hàng có chỉ định kiểm tra tầm soát bệnh lý, khách hàng có nhu cầu4000000
Chụp MRI não - động mạch não không tiêm thuốcChụp MRI não động mạch nãoKhách hàng có yếu tố nguy cơ đột quỵ, có chỉ định kiểm tra bệnh lý, khách hàng có nhu cầu2800000
Chụp MRI tiểu khung (với nữ): Không tiêm thuốcChụp MRI tiểu khungKhách hàng có chỉ định kiểm tra bệnh lý tử cung, phần phụ, khách hàng có nhu cầu2000000
Chụp MRI  tiểu khung (với nam) không tiêm thuốcChụp MRI tiểu khungKhách hàng có chỉ định kiểm tra bệnh lý, của tiền liệt tuyến, khách hàng có nhu cầu1700000
Cơ xương khớpKhám chuyên khoa cơ xương khớp
Siêu âm cơ xương khớp
Xét nghiệm canxi toàn phần, canxi ion, vitamin D
Khách hàng có yếu tố nguy, có chỉ định kiểm tra bệnh lý xương khớp, khách hàng có nhu cầu900000
Đo độ loãng xươngĐo độ loãng xươngDịch vụ đo loãng xương khuyến cáo cho khách hàng từ độ tuổi 50 trở lên, khách hàng có nguy cơ cao, khách hàng có nhu cầu300000
Kiểm tra tuyến giápSiêu âm tuyến giáp
TSH, TG, anti TG
Khách hàng có yếu tố nguy cơ ung thư tuyến giáp, có chỉ định kiểm tra bệnh lý, khách hàng có nhu cầu1000000
Sàng lọc ung thư cổ tử cungXét nghiệm phiến đồ CTC âm đạo
Xét nghiệm HPV
Dành cho nữ từ 21- 65 tuổi1000000
Sàng lọc ung thư dạ dàyNội soi dạ dày
Xét nghiệm CEA, CA 19-9
Nam, nữ trên 40 tuổi, khách hàng có nhu cầu1500000
Sàng lọc ung thư đại tràngNội soi đại tràng
Xét nghiệm CEA, CA 19-9
Nam, nữ trên 50 tuổi, khách hàng có nhu cầu2000000
Sàng lọc ung thư vú 2DSiêu âm vú
Chụp nhũ ảnh
Xét nghiệm CA 15-3
Phụ nữ trên 40 tuổi có nguy cơ trung bình, khách hàng có nhu cầu1000000
Tai mũi họng chuyên sâuKhám  chuyên sâu Tai mũi họng
Nội soi TMH
Chụp CLVT xoang
Theo tư vấn của bác sĩ hoặc khách hàng có nhu cầu2000000
Thần kinhKhám chuyên khoa thần kinh
Chụp MRI mạch não
Siêu âm doppler mạch cảnh 2 bên
Khách hàng có yếu tố nguy cơ đột quỵ, có chỉ định kiểm tra bệnh lý, khách hàng có nhu cầu1800000
Tim mạchKhám bác sĩ chuyên khoa tim mạch
Siêu âm tim
Điện tâm đồ
Khách hàng có yếu tố nguy cơ tim mạch, có chỉ định kiểm tra bệnh lý, khách hàng có nhu cầu1000000

Còn nhiều gói sức khỏe khác chúng tôi sẽ giới thiệu nếu được yêu cầu.

7. NHỮNG CƠ SỞ Y TẾ NÊN LỰA CHỌN

  • Hiện tại, nếu bạn đang ở Huế, Đà Nẵng, Đăk Lăk, TP Hồ Chí Minh thì bạn hãy liên hệ để bên mình cung cấp những địa chỉ uy tín.
  • Chúng tôi sẽ cập nhật các cơ sở uy tín ở tất cả tỉnh và thành phố khi được yêu cầu.