Chuyên mục lưu trữ: Cơ xương khớp

GÃY ĐẦU TRÊN XƯƠNG CÁNH TAY

Case: Bệnh nhân nam 14 tuổi vào viện vì chấn thương vai phải do tai nạn. Sau đó được chụp Xquang. Dưới đây là hình ảnh Xquang.

Chẩn đoán được đặt ra:
A. Gãy đầu trên xương cánh tay phải
B. Gãy mỏm cùng vai
C. Đáp án khác

Đáp án

  • Đáp án A sai. Vì đây là đĩa tăng trưởng bình thường.
  • Đáp án B sai. Vì đây là trung tâm cốt hóa bình thường.
  • Đáp án C đúng. Vì đây là hình ảnh bình thường khớp vai ở trẻ 14 tuổi.
    [collapse]



1. Đĩa tăng trưởng (Growth Plate)

Đĩa tăng trưởng ở đầu trên xương cánh tay ban đầu phẳng và nằm ngang. Bắt đầu từ khoảng 4 tháng tuổi, nó dần dần bị chếch hoặc có dạng hình nón theo chu vi, với đỉnh nằm ở trung tâm ở phần trước đầu xương cánh tay và gần phía ngoài ở phần sau đầu đầu xương cánh tay. Khi đĩa tăng trưởng thay đổi về hình dạng, nó cũng chuyển từ dạng đều sang dạng không đều.
Trên phim Xquang tư thế trước sau, đĩa tăng trưởng thường biểu hiện thành hai đường riêng biệt đi qua đầu trên xương cánh tay theo hướng trước sau (Hình 1), không nên nhầm lẫn với gãy xương ở đầu trên. Làm quen với biểu hiện bình thường này và sự vắng mặt của sự gián đoạn vỏ xương giúp phân biệt với đĩa tăng trưởng nhấp nhô bình thường với một gãy xương thực sự (Hình 2).


Hình 1. Đĩa tăng trưởng ở đầu trên xương cánh tay bình thường ở một cậu bé 13 tuổi. X quang tư thế trước sau vai trái cho thấy tấm tăng trưởng nhấp nhô dạng gợn sóng với hai đường riêng biệt (mũi tên thẳng và đầu mũi tên) đi qua đầu trên xương cánh tay. Lưu ý trung tâm hóa nhỏ của mỏm cùng vai (mũi tên cong).


Hình 2. Gãy xương đầu trên xương cánh tay ở một bé gái 12 tuổi. X quang tư thế trước sau vai trái cho thấy một vết gãy ở đầu trên xương cánh tay với sự gián đoạn vỏ xương đi kèm (mũi tên cong). Gãy xương hơi xa với tấm tăng trưởng nhấp nhô bình thường (mũi tên trắng thẳng và đầu mũi tên). Cũng lưu ý trung tâm cốt hóa dưới mỏm quạ (mũi tên đen).

2. Điểm cốt hóa thứ cấp: 

Trung tâm cốt hóa thứ cấp (secondary ossification centres) thường được nhìn thấy ở mỏm vùng vai và mỏm quạ (acromion and the coracoid processes).

Tham khảo

1. https://doi.org/10.1148/rg.2015140254
2. https://www.imageinterpretation.co.u

[collapse]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

NGÓN TAY CÒ SÚNG – NGÓN TAY BẬT – NGÓN TAY LÒ XO (TRIGGER FINGER)

Bs. Hoàng Văn Trung

1. Định nghĩa

Ngón tay cò súng hay còn gọi là ngón tay lò xo hay ngón tay bật là tình trạng giới hạn cử động ngón tay. Người bị bệnh ngón tay cò súng rất khó khăn khi gập ngón tay lại hoặc duỗi thẳng ngón tay ra. Khi người bệnh cố gắng gập ngón tay lại hoặc duỗi ra, ngón tay sẽ bật ra như lò xo hoặc bất ngờ gập mạnh lại như tư thế bóp cò súng. Đó là lý do bệnh lý này có các tên gọi như trên.


Hình 1. Ngón tay cò súng (ngón tay lò xo hoặc ngón tay bật).

Video minh họa ngón tay cò súng:

2. Giải phẫu

Gân là đầu tận của cơ bám vào các xương ngón tay và đây là cách chúng ta có thể uốn cong các ngón tay. Gân được bao phủ bởi một lớp vỏ bao (bao gân), nó giữ gân nằm trong một lớp chất lỏng rất mịn (hoạt dịch). Điều này giúp gân hoạt động mềm mại (tương tự như động cơ nhúng vào nhớt để vận động một cách trơn tru).


Hình 2. Các túi và bao hoạt dịch của bàn ngón tay.

Khi uốn cong các ngón tay, xu hướng tự nhiên của gân là dây cung (bowstring). Cơ thể chúng ta ngăn chặn điều này bằng cách sử dụng dây đai nhỏ (hệ thống ròng rọc) để giữ gân vào các xương ngón tay.

Hệ thống ròng rọc là những vòng xơ tròn (A1, A2, A3, A4, A5) và những phần xơ bắt chéo yếu hơn (C1, C2, C3, C4). A2 và A4 rất quan trọng để ngăn cơ chế dây cung. A1, A3, A5 tương ứng ngang mức khớp bàn ngón, liên đốt gần, liên đốt xa mặt lòng bàn tay. Ròng rọc A1 liên quan nhiều nhất đến bệnh lý ngón tay bật.


Hình 3. Các gân cơ gấp các ngón nông và sâu được bọc trong bao hoạt dịch ngón tay. Bao hoạt dịch này được đính vào xương bàn ngón tay bằng các bao xơ và dây chằng, tức là hệ thống ròng rọc.

3. Nguyên nhân

– Mọi độ tuổi đều có thể bị ngón tay cò súng nhưng bệnh thường thấy ở những người trên 45 tuổi và ở nữ nhiều hơn nam. 
– Người có hoạt động bàn tay nhiều như: người sử dụng máy vi tính nhiều, thợ may, thợ cắt tóc, nhạc công, nha sĩ, thợ mổ…
– Những người có các bệnh lý sau có nguy cơ mắc bệnh ngón tay cò súng cao hơn: tiểu đường, viêm khớp dạng thấp, bệnh nội tiết, bệnh nhiễm trùng…
– Cũng có nhiều trường hợp không tìm thấy nguyên nhân trên lâm sàng.


Hình 4. Nguyên nhân của ngón tay cò súng bao gồm trường hợp vận động ngón tay thường xuyên, chấn thương, các tình trạng bệnh lý toàn thân như viêm khớp, tiểu đường.

4. Cơ chế

Khi uốn cong các ngón tay, xu hướng tự nhiên của gân là dây cung (bowstring). Cơ thể chúng ta ngăn chặn điều này bằng cách sử dụng dây đai nhỏ (hệ thống ròng rọc) để giữ gân vào các xương ngón tay. Bình thường khi gân không dày, nó có thể lướt qua các ròng rọc dễ dàng. Vấn đề là khi gân bị viêm trở nên quá dày (thường dày không đều tạo thành các cục gân), các cục gân này sẽ bị các ròng rọc giữ lại. Để cử động được ngón tay khi gân bị kẹt vào hệ thống ròng rọc, chúng ta phải vận cơ để tạo ra một lực lớn hơn lực giữ của các ròng rọc, thì lúc này cục gân sẽ trượt qua được ròng rọc. Thời điểm trước khi qua được ròng rọc, thì lực vận cơ sẽ tăng dần làm cho gân căng ra, khi lực đủ lớn sẽ làm cho gân bị bật qua (cho nên còn gọi là ngón tay bật), đồng thời có thể nghe thấy tiếng bật. Trường hợp nặng hơn, do ròng rọc quá hẹp và gân quá dày, nên gân không thể di chuyển và nó bị kẹt lại ở tư thế co ngón tay dạng cò súng.


Hình 5. Minh họa gân dày lên và bị kẹt khó di chuyển qua ròng rọc


Hình 6. Khi ngón tay duỗi ra thì gân có xu hướng là dây cung so với cây cung là khung xương (tương tự cung tên). Muốn cho khung xương di động được và gân không tách rời khung xương thì phải có một hệ thống giữ gân và xương lại với nhau, đó là vai trò của hệ thống ròng rọc (ngược lại với dây cung và cây cung tách rời xa nhau, nếu gân và xương mà tách rời nhau ra thì rất khó hoạt động linh hoạt và sẽ không nằm gọn trong một ngón tay thì rất vướng).


Hình 7. Khi gân xương dày lên thì sẽ rất khó chui qua hệ thống ròng rọc. Tương tự như đoàn tàu quá khổ sẽ không chui lọt trong đường hầm. Khi ròng rọc dày lên cũng làm gân khó di chuyển. Tương tự như đoàn tàu không thể đi qua một đường hầm quá hẹp.

Video minh họa cơ chế:

5. Lâm sàng

Thông thường, ngón tay cò súng diễn ra đối với những ngón tay hay vận động, chẳng hạn như ngón cái, ngón trỏ, có thể xuất hiện cùng một lúc nhiều ngón tay bị kẹt và có thể xảy ra trên cả hai tay. Người lớn thường bị ngón giữa còn trẻ em thường bị ngón tay cái.

– Mức độ nhẹ: người bệnh cảm giác đau khi cử động ngón tay, kèm theo đó có thể có sưng nề nhẹ. Đau ở gốc ngón tay.

– Mức độ trung bình: Có thể sờ thấy có một chỗ u lồi lên ở mặt lòng bàn tay ngay chỗ ngón bị đau. Dấu hiệu của bệnh rõ ràng nhất khi người bệnh rất khó khăn khi gập ngón tay lại hoặc duỗi thẳng ngón tay ra. Khi người bệnh cố gắng gập ngón tay lại hoặc duỗi ra, ngón tay sẽ bật ra như lò xo hoặc bất ngờ gập mạnh lại như tư thế bóp cò súng. Ngón tay thường có khuynh hướng cứng hoặc kẹt sau khi mới ngủ dậy vào buổi sáng, sau một lúc vận động thì ngón tay mềm ra. Sau đó, nếu không được điều trị thi nó trở nên nặng hơn, phải sử dụng lực của bàn tay khác để kéo ra khi ngón tay đó bị kẹt.

– Mức độ nặng: ngón tay không thể duỗi thẳng được ngay cả khi có lực trợ giúp.


Hình 8. A. Mức độ nhẹ biểu hiện đau ở gốc ngón tay bị ảnh hưởng do viêm quanh ròng rọc A1. B. Mức độ vừa xảy ra khi ngón tay có cảm giác như bị giữ lại, nhưng vẫn có thể di chuyển. Mức độ nghiêm trọng hơn xảy ra khi ngón tay thực sự có thể bị khóa ở vị trí uốn cong, nhưng nó có thể duỗi thẳng bằng cách sử dụng sự trợ giúp lực bởi tay đối diện. C. Mức độ nặng nhất nhất là khi ngón tay bị khóa và không thể di chuyển được.

Phân loại Green:
– Độ I: Đau mặt lòng và khó chịu ở ròng rọc A1.
– Độ II: Vướng ngón tay.
– Độ III: Khóa ngón tay, cử động thụ động thì sửa chửa được.
– Độ IV: Khóa cố định ngón tay.

6. Chẩn đoán hình ảnh

Sự dày lên của ròng rọc A1 chồng lên các đầu xương bàn tay và sự thay đổi trong siêu âm của các gân gấp đi qua đường hầm. Có thể có tràn dịch bao hoạt dịch xung quanh gân. Mức độ dày có thể thay đổi với một số tác giả, giá trị bình thường là khoảng 0,5mm, độ dày được đề xuất khi đường kính trên 1,1mm. Gân cũng có thể dày lên. Quan trọng chẩn đoán được đoạn nào bị dày thì mới can thiệp được chính xác. Khảo sát động sự di chuyển của các gân trong hệ thống ròng rọc trên siêu âm.

Case 1: Bệnh nhân nữ 62 tuổi, khó khăn trong các cử động ngón 5 tay phải và cảm giác ngứa ran và tê ở ngón 1, 2 và 3.


Hình 9. Hình siêu âm cắt ngang. Dày ròng rọc A1 ngón 5 bên phải. Ròng rọc A1 bên trái là bình thường.


Hình 10. Hình siêu âm cắt dọc. Dày ròng rọc A1 ngón 5 bên phải. Ròng rọc A1 bên trái là bình thường.

Case 2: Bệnh nhân nam 55 tuổi, đau lòng bàn tay


Hình 11. Ròng rọc A1 dày lên


Hình 12. Ròng rọc A1 dày lên


Hình 13. Gân uốn cong Có sự dày lên của các gân uốn ở cấp độ của ròng rọc A1 (ảnh bên phải) so với bên trái (ảnh bên trái).

Có sự dày lên của ròng rọc A1. Ròng rọc bình thường có độ dày dưới 0,5 mm, nếu nó lớn hơn 1-1,5 mm thì được coi là bất thường. Các ròng rọc A2, 3, 4 và 5 có cỡ kích thước bình thường. Có kèm theo phức hợp viêm gân của gân gấp nông và sâu ngón tay tại A1. Các dấu hiệu phù hợp với chẩn đoán lâm sàng của ngón tay cò súng.

Case 3: Bệnh nhân nữ 60 tuổi, lâm sàng ngón tay cò súng


Hình 14. Dày ròng rọc A1 tay phải.


Hình 15. Ròng rọc A1 tay trái bình thường.


Hình 16. So sánh hai bên. Ròng rọc A1 một ngón tay bên phải dày hơn tay bên trái.

Case 4: Bệnh nhân nam khoảng 53 tuổi, lâm sàng ngón tay cò súng, có tiếng bật ở ngón cái tay phải


Hình 17. Dày ròng rọc A1 tay phải, so với ròng rọc bình thường ở tay trái.

Case 5: Bệnh nhân nam 45 tuổi. Đau, cứng, và cảm giác khóa ngón tay thứ 3 liên tục khi gập cong và duỗi thẳng ngón tay trong vòng 1 năm.


Hình 18. MRI sagittal, chuỗi xung T1 và PD FS. Sự dày lên của bao gân và gân đặc biệt ở vị trí khớp liên đốt bàn và ngón (ròng rọc A1) và khớp liên đốt gần và đốt giữa ngón 3 (ròng rọc A2), gây ra viêm bao hoạt dịch của gân gấp.


Hình 19. MRI axial, chuỗi xung T1 và PD FS. Sự dày lên của bao gân và gân đặc biệt ở vị trí khớp ròng rọc A1. Dày ròng rọc A1.

Viêm bao hoạt dịch là một tình trạng thường gặp ở ngón tay cò súng. Bình thường gân gấp ngón tay dễ dàng lướt qua ròng giữ gân ở vị trí gần với xương. Ngón tay cò súng xảy ra khi ròng rọc hoặc gân trở nên dày lên và gân không thể lướt qua được dễ dàng.

Case 6: Ngón tay cò súng, siêu âm mặt cắt dọc gân gấp. Ròng rọc A1 làm dày cản trợ chuyển động của gân gấp, cũng bị dày lên.

Video minh họa ròng rọc cản trở sự di động của gân ở vị trí dày gân:

Video minh họa siêu âm:

7. Điều trị

Ngón tay cò súng nên được điều trị theo cách từng bước, đầu tiên với các phương pháp điều trị ít xâm lấn nhất, chuyển sang xâm lấn nhiều hơn nếu tình trạng vẫn tồn tại.


Hình 20. Điều trị theo từng bước, tùy mức độ nặng của bệnh.

– Điều trị ban đầu là thay đổi thói quen, hạn chế vận động mạnh. (không xách đồ nặng, để ngón tay nghỉ ngơi). Nẹp ngón tay buổi tối. Giữ ấm bàn ngón tay. Tập luyện massage ngón tay. Sử dụng dứa, nghệ, lô hội.


Hình 21. Các phương pháp giảm triệu chứng ở giai đoạn sớm.

– Đối với những trường hợp nặng hơn, thay đổi thói quen và có thể uống thuốc kháng viêm giảm đau. 
– Nếu điều này không thành công, thì thường một mũi tiêm steroid có thể làm giảm viêm thành công và ngăn chặn ngón tay cò súng trong tương lai. Nó có hiệu quả trong khoảng 50% trường hợp. Chích kháng viêm trực tiếp vào bao gân gập thường rất hiệu quả nếu như điều trị sớm. Đôi khi một mũi tiêm thứ hai được đưa ra, và điều này thường làm cho tình trạng viêm biến mất hoàn toàn.
– Cuối cùng, nếu tiêm steroid và điều trị thất bại, thì phẫu thuật có thể được thực hiện để cắt ròng rọc A1 đang dính trên gân. Phẫu thuật này nếu được thực hiện một cách chính xác, chắc chắn sẽ khắc phục vấn đề vì không có bất kỳ mô nào có thể gây ra khóa gân. Phẫu thuật có thể được thực hiện bằng cách gây tê tại chỗ.


Hình 22. Minh họa vị trí phẫu thuật

Video minh họa điều trị:

Video minh họa phẫu thuật:

8. Tham khảo

  1. http://www.bonetalks.com
  2. https://radiopaedia.org
  3. http://www.draguskadir.com.au
  4. https://www.braceability.com
  5. https://www.youtube.com
  6. https://www.top10homeremedies.com

 

 

TRÀN DỊCH KHỚP GỐI (KNEE JOINT EFFUSION)

Hoàng Văn Trung

1. Giải phẫu khớp gối

Khớp gối bao gồm phần dưới của xương đùi và phần trên của xương chày (được gọi là mâm chày), đầu trên xương mác và xương bánh chè. Đầu xương được bọc bởi lớp sụn khớp. Một lớp sụn đệm vào giữa chúng gọi là sụn chêm trong (hình chữ C) và một lớp sụn bên ngoài gọi là sụn chêm ngoài (hình chữ O).

Hai đầu xương được giữ lại với nhau bằng các dây chằng, ở hai bên là dây chằng trong và dây chằng ngoài, ở trung tâm khớp là dây chằng chéo trước và dây chằng chéo sau. Xương bánh chè là một xương vừng, nó nằm ở dưới gân cơ tứ đầu đùi và có vai trò bảo vệ gân tứ đầu cũng như tăng cánh tay đòn của gân này.

Ngoài ra còn có bao hoạt dịch nằm ở mặt trong gối có cấu tạo là các sợi xơ mềm và mỡ, nó có thể tiết dịch hoạt dịch để làm trơn và nuôi dưỡng sụn khớp, nó cũng có vai trò chống lại nhiễm khuẩn viêm.

Các lớp mỡ ở khớp gối: Lớp mỡ trước trên xương bánh chè (Anterior suprapatellar fat pad). Lớp mỡ sau trên xương bánh chè (Posterior suprapatellar fat pad). Mô mỡ dưới xương bánh chè (Hoffa’s fat pad).

2. Các dấu hiệu tràn dịch khớp gối trên siêu âm

– Bề dày túi hoạt dịch trên xương bánh chè: ≥3mm
– Có dịch trong ổ khớp

Giải phẫu siêu âm mặt cắt dọc phía trên xương bánh chè:

Chú thích: Gân cơ tứ đầu đùi (mũi tên); Mỡ trên xương bánh chè (1, 2); Bao hoạt dịch trên xương bánh chè (dấu hoa thị).


Case minh họa 1:

Bệnh nhân nam 50 tuổi. Đau khớp gối hai bên (bên phải nhiều hơn bên trái), đau tăng lên trong vòng 1 tháng gần đây, chọc dịch ra màu vàng xanh nhạt.

Siêu âm khớp gối phải thấy tràn dịch lượng nhiều kèm dày bao hoạt dịch:

Siêu âm khớp gối trái thấy tràn dịch lượng ít kèm dày nhẹ bao hoạt dịch:

Kết luận: Viêm khớp gối hai bên.


Case minh họa 2:

Bệnh nhân sưng đầu gối trái 2 tuần, không chấn thương.
Siêu âm thấy túi hoạt dịch dưới xương bánh chè kt#25x24x5mm.

Kết luận: Viêm túi hoạt dịch dưới xương bánh chè dưới da.

3. Các dấu hiệu tràn dịch khớp gối trên Xquang

– Xóa mờ bờ sau của gân cơ tứ đầu đùi.
– Bề dày túi hoạt dịch: >10mm có giá trị chẩn đoán, 5-10mm chưa rõ ràng, <5mm không tràn dịch.
– Tăng đậm độ ở vị trí túi hoạt dịch trên xương bánh chè, có hình quả lê.
– Dịch chuyển gân cơ tứ đầu và xương bánh chè ra trước (khi lượng dịch >20ml)
– Sự hiện diện của lớp dịch – mỡ.

Hình ảnh minh họa:


Dấu hiệu xóa mờ bờ sau của gân cơ tứ đầu đùi


Dấu hiệu đậm độ dịch vị trí túi hoạt dịch, đẩy các lớp mỡ trên xương bánh chè. Bề dày túi hoạt dịch: >10mm có giá trị chẩn đoán, 5-10mm chưa rõ ràng, <5mm không tràn dịch.


Mờ hình quả lê ở trên xương bánh chè. Dịch chuyển gân cơ tứ đầu và xương bánh chè ra trước (khi lượng dịch >20ml).


Sự hiện diện của lớp dịch – mỡ chứng tỏ đã có tổn thương nứt xương làm mỡ trong tủy chảy ra.

Dấu hiệu lớp mỡ – dịch – máu khá kín đáo trên tư thế nằm tia X chiếu ngang.

Tham khảo:

  1. Atlas giải phẫu người, Netter
  2. Bài giảng giải phẫu học, Nguyễn Quang Quyền
  3. https://radiopaedia.org

[collapse]

XƯƠNG SÊN PHỤ (OS TRIGONUM TARSI)

Bs. Hoàng Văn Trung

1. Giải phẫu xương sên

Xương sên bao gồm chỏm, cổ, ròng rọc và mỏm sau.

Hình 1. Giải phẫu xương sên. Xương sên bao gồm chỏm, cổ, ròng rọc và mỏm sau. Mỏm sau bao gồm củ trong, củ ngoài, và rãnh cho gân gấp ngón cái dài
Hình 2. Giải phẫu xương sên
Hình 3. Giải phẫu vùng cấp máu của xương sên. Màu xanh lam là vùng động mạch chày sau, màu xanh lá là vùng động mạch mác, màu tím là vùng động mạch chày trước.

[collapse]
2. Os Trigonum (Xương sên phụ hoặc điểm cốt hóa phụ)

Os trigonum (tạm dịch là xương sên phụ, hay điểm cốt hóa phụ xương sên) là một trong những mảnh xương của cổ chân và có thể bị nhầm lẫn với gãy xương. 

Nó nằm ở phía sau xương sên và được nhìn thấy trên phim X quang tư thế nghiêng. Đây là kết quả của sự thất bại của quá trình hợp nhất của củ ngoài của mỏm sau xương sên. Tần suất có mặt ở khoảng 7% người lớn. 

Nó thường hình thành ở độ tuổi khoảng 7-13 tuổi và hợp nhất với xương sên ở phần lớn bệnh nhân, nếu không hợp nhất thì vẫn tồn tại dưới dạng Os trigonum. 

Hình 4. Os trigonum. Đây là mẩu xương thừa hình tam giác, do sự thất bại của quá trình hợp nhất củ bên với thân xương sên.
Hình 5. Bệnh nhân có bong gân và tràn dịch khớp cổ chân trước đây. Hình ảnh os trigonum xương sên trái. Có dạng mẩu xương hình chữ nhật ở vị trí củ ngoài mỏm sau xương sên. Trường hợp này dường như os trigonum hợp nhất một phần với củ xương sên.


Hình 6. Bệnh nhân nữ 25 tuổi đau sau ngã. Phát hiện tình cờ os trigonum. Không có các đường gãy được phát hiện.

Hình 7. Bệnh nhân nữ 19 tuổi có tiền sử chấn thương. Phát hiện os trigonum. Tràn dịch khớp cổ chân phía sau cũng được phát hiện.
Hình 8. Bệnh nhân nam vào viện vì đau gót. Thấy mẩu xương phụ phía sau xương sên. Chẩn đoán Os trigonum và gai nhỏ xương gót

[collapse]
3. Chẩn đoán phân biệt

3.1. Gãy mỏm sau xương sên. Gãy củ trong hoặc củ ngoài mỏm sau xương sên.

Gãy giật củ trong xương sên còn gọi là Cedell Fracture, liên quan đến các lực tác động quá mức vào dây chằng sên chày sau (posterior talotibial ligament) do gập mu bàn chân đột ngột.

Gãy mỏm sau xương sên hiếm gặp và thường xuyên bị bỏ sót trên hình ảnh Xquang, y văn hiện tại cho thấy đề nghị chụp CT không phải là một lựa chọn khả thi. Quan điểm chụp Xquang chếch với xoay ngoài có thể kiểm tra chính xác củ sau trong xương sên.

Bỏ sót chẩn đoán có thể dẫn đến các biến chứng về lâu dài, vì mảnh gãy xương sẽ dịch chuyển nhiều hơn, khả năng gân gấp ngón cái dài (flexor hallucis longus tendon) sẽ bị kẹt giữa các mảnh gãy. Khi được chẩn đoán sớm, xử trí gãy xương bảo tồn sẽ cho kết quả tốt.

Hình 9. Bệnh nhân nam 26 tuổi chấn thương. Hình Xquang cho thấy đường sáng thẳng đứng ở mỏm sau xương sên. Có dấu hiệu giọt nước ở phía trước khớp chày sên chứng tỏ có tràn dịch khớp. Phù nề mô mềm xung quanh. Kết luận gãy mỏm sau xương sên phải.
Hình 10. Gãy củ trong xương sên. Khó nhận ra trên phim nghiêng. Nhưng chụp chếch có thể phát hiện. Trường hợp này là bệnh nhân nam 30 tuổi bị chấn thương. Cho thấy củ trong xương sên bị gãy và di lệch tối thiểu.

3.2. Hội chứng chèn ép vùng cổ chân sau (Posterior ankle impingement syndrome)

Hội chứng chẹn cổ chân sau (Posterior ankle impingement syndrome ) thường gặp ở các vũ công ba lê (ballet dancers), người ném lao (javelin throwers) và cầu thủ bóng đá (football players). Tình trạng này bao gồm một nhóm bệnh lý kết quả do quá trình sự lặp đi lặp lại chấn thương cổ chân hoặc uốn cổ bàn chân. Bệnh nhân thường bị đau mạn tính phía sau cổ chân, hay tái phát và trở nên trầm trọng hơn khi uốn cong mạnh cổ bàn chân hoặc vận động đẩy, chẳng hạn như đá, rê bóng hoặc tâng bóng. Các cầu thủ bóng đá thường gặp. 

Cơ chế bệnh sinh là do sự tác động giữa phần sau của xương sên và mô mềm xung quanh, giữa xương gót và xương chày trong quá trình vận động cổ bàn chân. Các tổn thương xương như os trigonum, phân mảnh củ ngoài mỏm sau xương sên, khớp giả, phì đại phần dưới sau xương chày, phì đại phần trên xương gót là các nguyên nhân phổ biến của hội chứng này. Các mô mềm kèm theo bị ảnh hưởng  như bao khớp phía sau (posterior joint capsule), gân gấp ngón cái dài (flexor hallucis longus tendon), dây chằng sên mác sau (posterior talofibular ligament), dây chằng gian mắt cá (intermalleolar ligament) và dây chằng chày mác (tibiofibular ligament).

Hình 11. Minh họa các nguyên nhân gây ra hội chứng chẹn cổ chân sau. A – Hội chứng os trigoum. B – Phì đại kéo dài củ ngoài sương sên (Stieda process), đây là một biến thể giải phẫu. C – Kéo dài mỏm sau dưới xương chày. D – Gãy củ ngoài mỏm sau xương sên. E – Nhô cao của phần trên xương gót. F – Viêm mô mềm

Hội chứng này thường đáp ứng với điều trị bảo tồn. Điều trị phẫu thuật có thể được chỉ định khi các biện pháp bảo tồn đã thất bại. Phẫu thuật cần cắt bỏ os trigonum, mô sẹo hoặc mỏm sau xương sên bị phì đại. Nếu phẫu thuật cắt bỏ được coi là cần thiết, phẫu thuật nội soi tiếp cận qua con đường phía sau được khuyến cáo để loại bỏ các tổn thương đụng giập của hội chứng này, phẫu thuật nội soi sẽ mang lại hiệu quả hồi phục nhanh và tránh biến chứng tối thiểu.  

Trên siêu âm thường thấy phù nề mô mềm phía sau cổ chân giữa xương chày và xương gót. Thương kết hợp với tràn dịch cổ chân.

Trên Xquang thấy os trionum hoặc phân mảnh của của ngoài xương sên. Có thể có dấu hiệu tràn dịch khớp.

Trên MRI thấy giảm tín hiệu trên T1, tăng tín hiệu trên T2 và STIR os trigonum và mô xương sên kế cận, phù nề mô mềm xung quanh và thường kết hợp với tràn dịch khớp cổ chân.

Hình 12. Bệnh nhân nam 20 tuổi, lâm sàng đau vùng sau cổ chân. Trên Xquang thấy mỏm sau xương sên kéo dài. Chẩn đoán: hội chứng chẹn cổ chân sau do mỏm sau xương sên kéo dài (Stieda process). Đây là một biến thể giải phẫu của xương sên.
Hình 13. Bệnh nhân nam 17 tuổi. Chẩn đoán: hội chứng chẹn cổ chân sau do mỏm sau xương sên kéo dài (Stieda process).
Hình 14. Bệnh nhân nữ 50 tuổi đau cổ chân. Chẩn đoán: hội chứng chẹn cổ chân sau do mỏm sau xương sên kéo dài (Stieda process).
Hình 15. Hình ảnh MRI chuỗi xung STIR, cho thấy tăng tín hiệu xương vùng củ sau bên xương sên, phù nề mô mềm xung quanh. Tràn dịch khớp chày sên và dưới sên cũng được hiện diện. Kết luận Posterior ankle impingement syndrome (hội chứng chẹn, đụng giập cổ chân sau). Đây là hội chứng với os trigonum biến đổi tín hiệu kết hợp với tràn dịch khớp chày sên và dưới sên.
Hình 16. Bệnh nhân nam 25 tuổi có triệu chứng đau cổ chân mạn tính. Trước đây đã từng được nghi ngờ gãy xương sên. Trên hình ảnh MRI thấy có mẩu xương phụ, xung quanh phù nề tăng tín hiệu trên PD mô mềm quanh os trigonum, giảm tín hiệu trên T1. Tuy nhiên không thấy phù nề mô xương. Kết luận hội chứng chèn ép cổ chân sau.

[collapse]

 

 

 

 

NANG CẠNH SỤN CHÊM (PARAMENISCAL CYST)

1. Case 1

Bệnh nhân nam 25 tuổi sưng đau vùng sau trong gối phải.
Dưới đây là các hình ảnh chuỗi xung PD FS khớp gối phải mặt cắt sagittal, coronal và axial. MRI cho thấy một cấu trúc dạng dịch ở mặt sau trong khớp gối phải, bên cạnh sừng sau sụn chêm trong, kích thước #26x20mm.

Đường rách sừng sau sụn chêm trong
Nang cạnh đường rách sụn chêm trong
Nang cạnh sụn chêm
Dịch cạnh đường rách sụn chêm
Nang cạnh sụn chêm trong
Nang cạnh sụn chêm trong
Nang cạnh sụn chêm trong

 

Kết luận: Nang cạnh sụn chêm (Parameniscal cyst)

2. Case 2

Dưới đây là các hình ảnh MRI của bệnh nhân có nang cạnh sụn chêm thứ phát sau rách sụn chêm trong. Cho thấy một cấu trúc dạng nang ở cạnh dưới trong sụn chêm trong.

T1 coronal
T2 FS coronal
PD FS coronal
T1 axial
T2 FS axial

 

Kết luận: Nang cạnh sụn chêm (Parameniscal cyst)

Tham khảo: https://radiopaedia.org/